Tin Kinh tế- xã hội  > Doanh nghiệp

Thực trạng phát triển doanh nghiệp nông nghiệp trong phong trào xây dựng nông thôn mới

Cập nhật lúc: 31/07/2018 10:14:00 AM

Nông nghiệp tiếp tục phát triển với tốc độ cao theo hướng sản xuất hàng hoá, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả; đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia. Một số mặt hàng xuất khẩu chiếm vị thế cao trên thị trường thế giới. Năm 2017 vừa qua, Việt Nam có hơn 9 mặt hàng nông sản xuất khẩu đạt kim ngạch hơn 1 tỷ USD gồm: Thủy sản 8,3 tỷ USD; rau quả 3,05 tỷ USD; hạt điều 3,5 tỷ USD; cà phê 3,24 tỷ USD; hạt tiêu 1,1 tỷ USD; gạo 2,6 tỷ USD, sắn và các sản phẩm từ sắn 1,03 tỷ USD; cao su, gỗ và sản phẩm gỗ. Như vậy, nhiều mặt hàng như rau quả, thuỷ sản đã vượt dầu thô về giá trị xuất khẩu.

DN thu hút đầu tư, nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Tạo việc làm, từ đó nâng cao chất lượng đời sống người lao động (phần lớn là nông dân hoặc xuất thân từ nông dân); thay đổi tập quán canh tác, nâng cao trình độ của người nông dân. Số lao động được tạo ra từ các DN có hoạt động đầu tư vào nông nghiệp chiếm khoảng 32% tổng số lao động trong toàn khu vực DN. Trong đó, riêng ngành chế biến, chế tạo sản phẩm nông lâm thuỷ sản hiện có trên 4,2 triệu lao động, chiếm 30,12% tổng số lao động trong toàn khu vực DN.

 Thu nhập bình quân của lao động trong DN nông, lâm, thủy sản đạt khoảng 5,04 triệu/tháng.

 Các DN cũng đã tiên phong trong ứng dụng khoa học kỹ thuật, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả; chủ động tìm kiếm, phát triển thị trường, nâng cao giá trị cho nông sản.

 Để tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp phát huy hơn nữa vai trò của mình trong lĩnh vực nông nghiệp, chúng ta cần có đánh giá toàn diện về hiện trạng của các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp thông qua những điểm chính sau:

Thứ nhất, về số lượng và hình thức tổ chức sản xuất

 Số lượng doanh nghiệp nông nghiệp gia tăng nhanh chóng: Thời gian gần đây, ngành nông nghiệp thu hút ngày càng nhiều doanh nghiệp, tập đoàn lớn trong nước quan tâm tìm hiểu và đã đầu tư với quy mô lớn, đặc biệt là các mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Trong giai đoạn 2005 - 2016 số lượng các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trong khu vực nông lâm thủy sản tăng từ 2.217 doanh nghiệp lên 4.400 doanh nghiệp, bình quân tăng 6,4%/năm. Năm 2017, có 1.955 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trong lĩnh vực nông nghiệp, đưa số lượng doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp đạt trên 5.661 doanh nghiệp. Tính đến Quý II/2018, cả nước có khoảng hơn 49.600 doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, chiếm 8% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trên cả nước; nhưng các doanh nghiệp trực tiếp sản xuất các sản phẩm nông, lâm, thủy sản chỉ chiếm khoảng 1% tổng số doanh nghiệp với số lượng 7.600 doanh nghiệp; còn lại  là các doanh nghiệp trong chuỗi các ngành liên quan đến nông nghiệp như chế biến hàng; cung cấp nguyên liệu đầu vào, doanh nghiệp dịch vụ thương mại... Mặc dù số lượng doanh nghiệp nông nghiệp tăng lên nhưng vẫn còn chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng số các doanh nghiệp của cả nước. Nếu tính thêm cả doanh nghiệp chế biến nông lâm thủy sản và doanh nghiệp thương mại các mặt hàng lương thực thực phẩm, số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm khoảng 8% trong tổng số doanh nghiệp cả nước. Bên cạnh đó, có tới trên 95% số doanh nghiệp nông nghiệp có quy mô vừa và nhỏ đang là thách thức lớn trong nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp.

Bên cạnh sự tăng lên của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nông nghiệp, một số doanh nghiệp tập đoàn lớn ngoài lĩnh vực nông lâm thủy sản cũng đẩy mạnh đầu tư vào nông nghiệp, như tập đoàn Vingroup, MaSan, Himlam, Viettel, FLC, Hoàng Anh Gia Lai, Pan group… Những đơn vị này cũng áp dụng nhiều quy trình sản xuất hiện đại, áp dụng công nghệ mới và đã cho những kết quả ban đầu khá tốt. Với các dự án đầu tư bài bản, các doanh nghiệp đã bước đầu tạo được hiệu ứng lan tỏa, thu hút thêm nhiều nhà đầu tư mới, thắp lửa tinh thần khởi nghiệp cho nông dân trở thành doanh nhân trên chính mảnh đất của họ.

- Về hình thức tổ chức sản xuất, việc cơ cấu lại sản xuất sản phẩm nông nghiệp diễn ra theo hướng chuyển dần từ hộ sản xuất sang hình thức hợp tác xã, doanh nghiệp, nhưng với tốc độ chuyển dịch còn khá chậm. Hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp chủ yếu hiện nay vẫn ở dạng hộ sản xuất với hơn 9,2 triệu hộ.

Thứ hai, về cơ cấu doanh nghiệp: Khoảng 90% doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp là doanh nghiệp tư nhân; còn lại là các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp FDI.

- Xét về cơ cấu ngành và vùng lãnh thổ: Gần 50% doanh nghiệp hoạt động trong ngành nông nghiệp; hơn 35% trong lĩnh vực khai thác, nuôi trồng thủy sản; và hơn 15% trong lĩnh vực lâm nghiệp. Các doanh nghiệp nông nghiệp tập trung nhiều nhất ở đồng bằng sông Cửu Long với tỷ trọng là 25%, và ít nhất ở miền núi phía Bắc là 7%.

 - Xét theo quy mô lao động, 96% các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp chủ yếu có quy mô nhỏ và siêu nhỏ.

 - Về sử dụng lao động:  Sự phát triển của các doanh nghiệp nông nghiệp có vai trò quan trọng và đóng góp nhiều trong việc thúc đẩy sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo việc làm cho lao động nông nghiệp, nông thôn và góp phần phát triển kinh tế, ổn định xã hội. Tổng số lao động thường xuyên hiện đang làm việc trong các doanh nghiệp nông nghiệp năm 2017 là hơn 300 nghìn người (chiếm 2,3% tổng số lao động trong khu vực doanh nghiệp cả nước). Bình quân mỗi doanh nghiệp nông nghiệp sử dụng hơn 30 lao động/doanh nghiệp, cao hơn so với số lao động bình quân trong doanh nghiệp chung cả nước (28 lao động/doanh nghiệp).

Thứ ba, về nguồn vốn sản xuất kinh doanh:  Về quy mô vốn: Trong vòng 10 năm (2005-2015), tổng vốn đầu tư vào khu vực nông nghiệp của doanh nghiệp tăng gấp 4 lần (từ mức 44.273,1 tỷ đồng lên mức 231.334 tỷ đồng). Quy mô vốn bình quân trong các doanh nghiệp nông nghiệp trong nước năm 2016 là 35,8 tỷ đồng/doanh nghiệp (vốn bình quân doanh nghiệp cả nước là 72,82 tỷ đồng/doanh nghiệp). Nếu tính riêng doanh nghiệp chế biến nông lâm thủy sản là hơn 73,1 tỷ đồng/doanh nghiệp, cao hơn bình quân cả nước và gấp gần 3 lần so với năm 2005

Báo cáo của NHNN Việt Nam tại Hội nghị toàn quốc thúc đẩy doanh nghiệp (DN) đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp(7/2018) cho biêt, nhờ triển khai đồng bộ chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, các chương trình tín dụng đặc thù, đến 31/12/2017, dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đạt 1.310.832 tỷ đồng, tăng 25,5% so với cuối năm 2016 (cao hơn so với mức tăng tín dụng chung 18,17%), chiếm tỷ trọng khoảng 20% tổng dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế;

Đến cuối quý I/2018, dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đạt 1.366.248 tỷ đồng, tăng 4,2% so với cuối năm 2017 và chiếm tỷ trọng khoảng 21% dư nợ tín dụng nền kinh tế.

Trong tổng dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, dư nợ tín dụng đối với doanh nghiệp nông nghiệp đạt 488.746 tỷ đồng, chiếm 35,8%,tăng 3,41% so với cuối năm 2017. Trong đó, để hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp về tài sản bảo đảm, các TCTD đã thực hiện cho vay không có tài sản bảo đảm đối với các doanh nghiệp uy tín, có phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả, tình hình tài chính lành mạnh với  tỷ trọng dư nợ tín dụngkhông có tài sản bảo đảm đối với doanh nghiệp chiếm 11%. 

Việc triển khai các chương trình tín dụng thuộc lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn cũng đã đạt kết quả tích cực, cụ thể:

- Chương trình cho vay khuyến khích phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch theo Nghị quyết 30/NQ-CP ngày 07/3/2017 của Chính phủ đạt dư nợ hơn 40.000 tỷ đồng với 16 nghìn khách hàng cá nhân và 273 khách hàng doanh nghiệp còn dư nợ.

- Trong 3 năm 2015-2017, các ngân hàng đã ký hợp đồng tín dụng đối với ngư dân để cho vay đóng mới, nâng cấp 1.168 tàu, chiếm 45,9% tổng số tàu cần đóng mới Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phân bổ cho các địa phương giai đoạn 2015-2020  với tổng số tiền cam kết cho vay đạt 11.704 tỷ đồng.

- Chính sách cho vay hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp theo Quyết định 68/2013/QĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ đã tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp có điều kiện đầu tư máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm. Doanh số cho vay lũy kế từ khi triển khai đạt trên 9.000 tỷ đồng, dư nợ đến cuối quý 1/2018 ước đạt 4.850 tỷ đồng với hơn 15.300 khách hàng còn dư nợ.

Tuy vậy, hiện nguồn vốn của doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 8% đến 10% tổng nguồn vốn của toàn khu vực doanh nghiệp. Trong đó, vốn của các doanh nghiệp trực tiếp sản xuất chỉ chiếm khoảng 1%.

Thứ tư, về hiệu quả sản xuất kinh doanh:

 Mặc dù là ngành chịu nhiều rủi ro về thời tiết, biến đổi khí hậu và thị trường, nhưng các doanh nghiệp nông nghiệp vẫn cho hiệu quả ổn định và có phẩn cao hơn so với các doanh nghiệp khác. Tính toán cho cả giai đoạn đủ dài 2007 - 2015, hiệu suất sinh lợi trên tài sản (ROA), được tính bằng lợi nhuận trước thuế/tổng tài sản của doanh nghiệp nông nghiệp luôn đạt trên 10% so với mức 3,4% của các doanh nghiệp nói chung. Bên cạnh đó, hiệu suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE - được tính bằng lợi nhuận trước thuế/vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp nông nghiệp) đạt bình quân trên 15% trong cả giai đoạn 2007 - 2015, mức cao nhất trong tất cả các ngành. Điều này cũng cho thấy nông nghiệp là lĩnh vực có nhiều tiềm năng và có nhiều doanh nghiệp hoạt động tốt (Báo cáo doanh nghiệp năm 2016 của VCCI).

Trong giai đoạn vừa qua, mặc dù doanh thu của doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp có xu hướng tăng nhẹ, chiếm 15-16% doanh thu của toàn bộ doanh nghiệp trong nền kinh tế nhưng lợi nhuận của các doanh nghiệp nhóm ngành trực tiếp sản xuất lại có xu hướng giảm. Nhìn chung, lợi nhuận bình quân của doanh nghiệp trong ngành trực tiếp sản xuất nông nghiệp chỉ đạt 1,08 tỷ đồng, trong khi doanh nghiệp trong ngành chế biến sản phẩm nông nghiệp đạt 3,2 tỷ đồng lợi nhuận bình quân/năm.

Với những phát triển ấn tượng trong sản xuất kinh doanh, các DN đầu tư vào nông nghiệp đã có đóng góp quan trọng vào ngân sách Nhà nước. Dù chỉ chiếm tỉ trọng thấp, chưa đến 8% tổng số DN, nhưng các DN này nộp ngân sách khoảng 16% tổng số nộp ngân sách của toàn khu vực DN.

Đáng chú ý, gần đây nhiều DN FDI đã đầu tư vào nông nghiệp. Tính đến tháng 3/2018, cả nước có 512 dự án FDI đầu tư vào nông nghiệp, tổng vốn đăng ký 3,4 tỷ USD, chiến 1,07% tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam.

Như vậy, qua các số liệu trên, chúng ta có thể hình dung thực trạng doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp hiện nay giống như một bức tranh nhiều màu sắc, trong đó còn nhiều mảng màu cần làm cho tươi sáng hơn trong tương lai.

Nhìn từ góc độ của Nhà nước, cơ chế chính sách và khung pháp lý ngày càng được hoàn thiện, thu hút, tạo động lực cho doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp. Thời gian qua, Nhà nước đã xây dựng khung pháp lý ngày một thông thoáng và ban hành nhiều chính sách ưu đãi thu hút đầu tư tư nhân trong và ngoài nước vào nông nghiệp, nông thôn.

Quốc hội đã thông qua Luật đất đai, Luật đầu tư, Luật Doanh nghiệp sửa đổi, Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa, ....Chính phủ cũng đã ban hành nhiều chính sách với mục tiêu tạo môi trường kinh doanh đầu tư thuận lợi cho các doanh nghiệp như các Nghị quyết số 19/NQ-CP, Nghị quyết 35/NQ-CP về cải thiện môi trường kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp đến năm 2020.

Nhiều chính sách cũng đã được ban hành cụ thể như Nghị định số 55/2015 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; Nghị định số 98/2018 về chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong hợp tác, liên kết sản xuất quy mô lớn; Gói tín dụng 100 nghìn tỷ cho nông nghiệp công nghệ cao; Nghị định số 58/2018 về bảo hiểm nông nghiệp, v.v…

Đặc biệt, gần đây nhất Chính phủ đã ban hành Nghị định số 57/2018/NĐ-CP thay thế Nghị định số 210/2013/NĐ-CP, với nhiều ưu đãi, hỗ trợ cho doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.

Nghị định mới tập trung vào các cơ chế chính sách ưu đãi về sử dụng, thuê đất đai, mặt bằng kinh doanh; ưu đãi về thuế, hỗ trợ tín dụng; đào tạo lao động, phát triển thị trường, đầu tư cơ sở hạ tầng đến hàng rào doanh nghiệp, ưu tiên hỗ trợ một số dự án đầu tư vào nông nghiệp nhất là các dự án về liên kết, chế biến sâu, ứng dụng khoa học công nghệ cao.

--------------------

Nguồn: B/c tổng hợp của Bộ Kế hoạch và đầu tư (7/2018)

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban biên tập (tổng hợp)
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202