Tin Kinh tế- xã hội  > Doanh nghiệp

Tình hình triển khai thực hiện cổ phần hoá, thoái vốn, cơ cấu lại DNNN

Cập nhật lúc: 23/11/2018 10:02:00 AM

1.Tình hình ban hành cơ chế chính sách phục vụ quá trình đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN

Triển khai kế hoạch đề ra, từ năm 2016 đến nay, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các Bộ, ngành nghiên cứu, xây dựng để ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành đầy đủ, đồng bộ hệ thống cơ chế chính sách, pháp luật về cổ phần hóa, thoái vốn, cơ cấu lại DNNN kịp thời theo đúng quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh, Luật Chứng khoán, Luật Thực hành tiết kiệm chống lãng phí, Luật Đất đai…, Chính phủ đã ban hành 13 Nghị định và 01 Nghị quyết[1], Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 02 Quyết định[2] và 01 công văn chỉ đạo[3] quy định về tiêu chí, danh mục phân loại DNNN, trình tự cổ phần hóa, thoái vốn, phương pháp định giá, cơ chế đấu giá bán ra thị trường, chế độ, chính sách đối với người lao động…, trong đó cơ chế về cổ phần hóa DNNN và thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp được đặc biệt chú trọng đảm bảo nguyên tắc đúng pháp luật, theo thị trường và công khai, minh bạch, cụ thể:

1.1.Cơ chế cổ phần hóa DNNN:

Ngày 16/11/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 126/2017/NĐ-CP về chuyển DNNN và Công ty TNHH MTV do doanh nghiệp nhà nước đầu tư 100% vốn điều lệ thành công ty cổ phần (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) và Bộ Tài chính đã ban hành 03 Thông tư hướng dẫn Nghị định số 126/2017/NĐ-CP (Thông tư số 40/2018/TT-BTC; Thông tư số 41/2018/TT-BTC ngày 04/5/2018; Thông tư số 69/2018/TT-BTC ngày 08/08/2018) và 02 Quy chế mẫu về bán đấu giá cổ phần (Quyết định số 584/QĐ-UBCK ngày 06/07/2018 về ban hành Quy chế mẫu về bán đấu giá cổ phần giữa các nhà đầu tư chiến lược và Quyết định số 585/QĐ-UBCK ngày 06/07/2018 ban hành Quy chế mẫu về bán đấu giá cổ phần ra công chúng). Nghị định và các Thông tư hướng dẫn đã tạo điều kiện để nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nói chung và chuyển đổi doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần nói riêng trong thời gian tới, ngăn chặn thất thoát vốn và tài sản nhà nước (những điểm mới của Nghị định số 126/2017/NĐ-CP tại phụ lục số 1 kèm theo), tập trung vào công tác xác định giá trị tài sản và xử lý đất đai của doanh nghiệp cổ phần hóa, cụ thể:

- Nghị định đã quy định các tổ chức tư vấn định giá chủ động áp dụng các phương pháp định giá tiên tiến phù hợp với cơ chế thị trường, tổ chức tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp được lựa chọn các phương pháp thích hợp để xác định giá trị doanh nghiệp và đảm bảo mỗi doanh nghiệp cổ phần hóa phải được áp dụng tối thiểu hai (02) phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp khác nhau trình cơ quan đại diện chủ sở hữu xem xét, quyết định; đồng thời hướng dẫn cụ thể việc áp dụng phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp theo phương pháp tài sản là giá trị tối thiểu để cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định. Khi xác định giá trị đối với một số doanh nghiệp đặc thù, cơ quan tư vấn xác định để báo cáo cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định xác định giá trị thương hiệu bao gồm cả các yếu tố lịch sử, bề dày truyền thống.

- Để tăng cường công tác kiểm tra, giám sát quá trình cổ phần hóa, trọng tâm là khâu xác định giá trị doanh nghiệp, xác định giá trị quyền sử dụng đất đầy đủ vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa, thúc đẩy việc nâng cao trách nhiệm và chất lượng của tư vấn độc lập, Nghị định đã bổ sung phạm vi, đối tượng phải thực hiện Kiểm toán nhà nước trước khi cơ quan có thẩm quyền công bố giá trị doanh nghiệp (doanh nghiệp có giá trị từ 1.800 tỷ đồng trở lên).

- Về xử lý đất đai và xác định giá trị quyền sử dụng đất trong giá trị doanh nghiệp cổ phần hoá, đảm bảo hoàn thiện đầy đủ hồ sơ pháp lý về đất đai của DNNN trước khi cổ phần hóa, khắc phục tình trạng sau khi DNNN chuyển sang công ty cổ phần mới có ý kiến của địa phương về hồ sơ pháp lý (phương án sử dụng đất), Nghị định đã quy định rõ:

(i) Các DNNN thuộc diện cổ phần hóa có trách nhiệm rà soát toàn bộ diện tích đất đang quản lý, sử dụng để lập phương án sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai và pháp luật về sắp xếp lại, xử lý nhà đất thuộc sở hữu nhà nước (quy định tại Nghị định số 167/2017/NĐ-CP ngày 31/12/2017, đã hướng dẫn cụ thể về trình tự, thủ tục sắp xếp, xử lý nhà đất của các doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp cổ phần hóa) và trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, phê duyệt trước thời điểm quyết định cổ phần hoá.

Phương án sử dụng đất của toàn bộ diện tích đất doanh nghiệp cổ phần hóa đang quản lý, sử dụng phải bảo đảm phù hợp với quy định về sắp xếp lại, xử lý nhà, đất; phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng tại địa phương; phù hợp với chiến lược phát triển doanh nghiệp.

(ii) Đối với những diện tích đất được giao để sử dụng vào mục đích xây dựng nhà để bán và xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê theo phương án sử dụng đất của doanh nghiệp cổ phần hóa đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phải xác định lại giá trị quyền sử dụng đất để tính vào giá trị doanh nghiệp và thực hiện nộp ngân sách nhà nước. Giá đất để xác định giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa là giá đất cụ thể tại vị trí doanh nghiệp có diện tích đất được giao do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (nơi doanh nghiệp có diện tích đất được giao) quyết định theo quy định tại khoản 3 và điểm d khoản 4 Điều 114 của Luật đất đai.

(iii) Đối với diện tích đất còn lại (sau khi loại trừ diện tích đất tại điểm (ii) nêu trên) theo phương án sử dụng đất của doanh nghiệp cổ phần hóa đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, doanh nghiệp thực hiện hình thức thuê đất có thời hạn theo quy định của pháp luật về đất đai và trả tiền thuê đất hàng năm theo giá đất cụ thể tại vị trí doanh nghiệp có diện tích đất được thuê do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (nơi doanh nghiệp có diện tích đất được thuê) quyết định theo quy định tại khoản 3 và điểm d khoản 4 Điều 114 của Luật đất đai.

Số tiền doanh nghiệp đã nộp hoặc đã trả khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, giao đất, thuê đất chưa hạch toán vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh tính đến thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp sẽ được xác định là số tiền doanh nghiệp đã trả trước tiền thuê đất cho một khoảng thời gian nhất định theo giá đất cụ thể hàng năm theo quy định tại thời điểm doanh nghiệp hoàn tất thủ tục thuê đất với cơ quan quản lý đất đai tại địa phương.

(iv) Trong thời gian 60 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cổ phần lần đầu, doanh nghiệp cổ phần hóa có trách nhiệm thực hiện các thủ tục để được Nhà nước giao đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật đất đai.

(v) Công ty cổ phần được chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước phải thực hiện quản lý và sử dụng đất của doanh nghiệp theo đúng mục đích, đúng phương án sử dụng của toàn bộ diện tích đất đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật về đất đai.

(vi) Trong thời hạn 30 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phải có ý kiến chính thức đối với toàn bộ diện tích đất doanh nghiệp sẽ tiếp tục sử dụng sau cổ phần hóa và giá đất cụ thể quy định tại Điều này theo quy định của pháp luật về đất đai.

1.2.Cơ chế thoái vốn nhà nước:

Ngày 08/3/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 32/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 91/2015/NĐ-CP ngày 13/10/2015 về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 59/2018/TT-BTC ngày 16/7/2018 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 219/2015/TT-BTC ngày 31/12/2015 của Bộ Tài chính về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp và 02 Quy chế mẫu hướng dẫn Nghị định số 32/2018/NĐ-CP (Quyết định số 583/QĐ-UBCK ngày 06/07/2018 ban hành Quy chế mẫu về bán đấu giá theo lô chuyển nhượng vốn nhà nước, vốn của doanh nghiệp nhà nước đầu tư tại công ty cổ phần; Quyết định số 586/QĐ-UBCK ngày 06/07/2018 ban hành Quy chế mẫu về bán đấu giá thông thường chuyển nhượng vốn nhà nước, vốn của doanh nghiệp nhà nước đầu tư tại công ty cổ phần).

Nghị định và Thông tư đã bổ sung các nội dung mới: về nguyên tắc chuyển nhượng vốn nhà nước/vốn của DNNN đầu tư tại doanh nghiệp khác; quy định về xác định giá khởi điểm khi thực hiện chuyển nhượng vốn nhà nước/vốn của DNNN đầu tư tại doanh nghiệp khác; quy định về thẩm quyền quyết định chuyển nhượng vốn nhà nước/vốn của DNNN đầu tư tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên; quy định về phương thức chuyển nhượng vốn nhà nước/vốn của DNNN đầu tư tại doanh nghiệp khác; quy định về xác định giá bán cổ phần mà nhà đầu tư phải thanh toán khi cơ quan đại diện chủ sở hữu/DNNN thực hiện giao dịch ngoài sàn để chuyển nhượng vốn tại công ty cổ phần đã niêm yết hoặc đăng ký giao dịch trên thị trường chứng khoán; quy định về ghi nhận vốn đầu tư ra ngoài của DNNN theo Hợp đồng Hợp tác kinh doanh (BCC) và chuyển nhượng vốn đầu tư tham gia Hợp đồng BCC; quy định về trách nhiệm của người đại diện vốn nhà nước trong việc thu cổ tức, lợi nhuận được chia vào Ngân sách nhà nước. (Những điểm mới của Nghị định số 32/2018/NĐ-CP tại phụ lục số 2 kèm theo)

Như vậy, để phục vụ việc tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2016-2020, đến nay cơ bản hệ thống chính sách đã được ban hành đầy đủ, tạo khung pháp lý cho các doanh nghiệp, tổ chức triển khai.

2. Tình hình phê duyệt phương án cơ cấu lại DNNN:

Theo yêu cầu tại Quyết định số 707/QĐ-TTg ngày 25/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ thì tất cả các Bộ, địa phương, Tập đoàn kinh tế, tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước phải xây dựng, ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành Phương án cơ cấu lại doanh nghiệp trực thuộc. Căn cứ Phương án được phê duyệt, các doanh nghiệp sẽ thực hiện cơ cấu lại doanh nghiệp trên nhiều lĩnh vực, phương diện như phương hướng, lĩnh vực ngành nghề kinh doanh, cơ cấu lại tài chính, nhân sự, khoa học kỹ thuật, áp dụng các phương pháp quản trị hợp lý, tiến bộ… để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Từ khi ban hành Quyết định số 707/QĐ-TTg ngày 25/5/2017 đến nay (tính đến ngày 18/11/2018), theo báo cáo gửi về Bộ Tài chính mới có 35/526 doanh nghiệp nhà nước (theo tổng hợp của Bộ Tài chính thì tính đến thời điểm kết thúc năm tài chính 2017, có 526 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ) được cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án cơ cấu lại[4](Phụ lục số 3 kèm theo), trong đó:

- Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt phương án cơ cấu lại của 07 Tập đoàn, Tổng công ty, gồm: Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam, Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội, Tổng công ty Lương thực Miền Bắc, Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước.

- Bộ Giao thông vận tải đã phê duyệt phương án cơ cấu lại 03 Tổng công ty. Bộ Thông tin và Truyền thông đã phê duyệt phương án cơ cấu lại của 02 Tổng công ty. Bộ Tài chính đã phê duyệt Đề án cơ cấu lại Công ty Mua bán nợ Việt Nam.

- Thành phố Hải Phòng phê duyệt phương án cơ cấu lại 07 doanh nghiệp; tỉnh Quảng Bình phê duyệt đề án cơ cấu lại của 02 doanh nghiệp; tỉnh Ninh Thuận phê duyệt đề án cơ cấu lại của 02 doanh nghiệp; tỉnh An Giang phê duyệt đề án cơ cấu lại của 01 doanh nghiệp.

- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, địa phương, Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước còn lại khác theo báo cáo chưa phê duyệt phương án cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước trực thuộc theo yêu cầu tại Quyết định số 707/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

--------------------------

(Nguồn: Trích B/c của Bộ Tài chính, Tài liệu phục vụ Hội nghị Đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước ngày 21/11/2018); VGP

 


[1] - Nghị định số 147/2017/NĐ-CP ngày 25/12/2017 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 151/2013/NĐ-CP ngày 01/11/2013 về chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC);

 - Nghị định số 148/2017/NĐ-CP ngày 25/12/2017 về Điều lệ tổ chức và hoạt động của SCIC thay thế Nghị định số 57/2014/NĐ-CP ngày 16/6/2014;

- 07 Nghị định về Điều lệ tổ chức và hoạt động của  các Tập đoàn, Tổng công ty: Dầu khí, Hóa chất, Điện lực, Than và Khoáng sản, Viễn thông quân đội, Đường sắt, Lương thực miền Bắc;

- Nghị quyết số 09/NQ-CP ngày 03/2/2018 về thành lập Ủy ban quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp;

- Nghị định số 126/2017/NĐ-CP ngày 16/11/2017 về chuyển DNNN và Công ty TNHH MTV do doanh nghiệp nhà nước đầu tư 100% vốn điều lệ thành công ty cổ phần;

- Nghị định số 167/2017/NĐ-CP ngày 31/12/2017 quy định việc sắp xếp lại, xử lý tài sản công;

- Nghị định số 32/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 91/2015/NĐ-CP ngày 13/10/2015 về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp.

- Nghị định số 131/2018/NĐ-CP ngày 29/9/2018 Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

[2] - Quyết định số 58/2016/QĐ-TTg ngày 28/12/2016 về Tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước và Danh mục doanh nghiệp nhà nước thực hiện sắp xếp giai đoạn 2016 – 2020;

- Quyết định số 1232/QĐ-TTg ngày 17/8/2017 phê duyệt danh mục doanh nghiệp có vốn nhà nước thực hiện thoái vốn giai đoạn 2017-2020.

[3] Công văn số 991/TTg-ĐMDN ngày 10/7/2017 phê duyệt danh mục DNNN hoàn thành cổ phần hóa theo từng năm giai đoạn 2017-2020.

[4] Ngoài ra, Tập đoàn Điện lực đã phê duyệt phương án cơ cấu lại của 09 Tổng công ty trực thuộc, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam đã phê duyệt phương án cơ cấu lại của 23 đơn vị trực thuộc, trong đó có 04 Tổng công ty có quy mô lớn.

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban biên tập (tổng hợp)
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202