Tin Kinh tế- xã hội  > Kinh tế vĩ mô

Ưu đãi đầu tư: thực trạng và giải pháp

Cập nhật lúc: 25/12/2018 09:56:00 AM

Tại Hội thảo chuyên đề "Ưu đãi đầu tư, giao dịch liên kết: Thực trạng và giải pháp" do Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Bộ Tài chính tổ chức ngày, đại diện Cục Tài chính doanh nghiệp (Bộ Tài chính) nhận định những đóng góp của doanh nghiệp (DN) có vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) vào ngân sách nhà nước hiện nay vẫn còn thấp, chưa tương xứng với nguồn tài nguyên sử dụng. 

Một trong những nguyên nhân chính là các DN có vốn ĐTNN lợi dụng chính sách ưu đãi đầu tư cao (như tiền thuê đất, thuế thu nhập DN, thu nhập cá nhân...) để thực hiện chuyển giá, chuyển lợi nhuận. Theo đại diện Cục Tài chính DN, tính riêng trong năm 2016, doanh thu của DN có vốn đầu tư nước ngoài tăng 21,7% so với năm 2015, cao hơn mức độ tăng tài sản (18,6%) và tốc độ tăng của vốn chủ sở hữu (15,5%) cho thấy hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN này thuận lợi. Số thu về các sắc thuế nội địa (không kể dầu thô) của khu vực DN có vốn ĐTNN là 161.608 tỷ đồng, tăng 14% so với năm 2015.

Hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng ở mức cao (tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn chủ sở hữu là 16,3% và tỷ suất lợi nhuận ròng trên tổng tài sản là 5,82%) song tình trạng DN thua lỗ chiếm tỷ trọng lớn và tiếp tục tăng so với những năm trước. Từ năm 2012 đến 2016, số lượng DN có vốn ĐTNN báo lỗ hằng năm là từ 44%-51% (đặc biệt năm 2015 là 51% và năm 2016 là 50%). Bên cạnh hiện tượng chuyển giá từ Việt Nam ra nước ngoài, theo đại diện Cục Tài chính DN còn có hiện tượng chuyển giá, chuyển lợi nhuận ngược (từ nước ngoài vào Việt Nam) của một bộ phận DN có vốn ĐTNN trong nước được hưởng ưu đãi lớn về thuế suất và thời gian miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp.
Ông Bùi Ngọc Tuấn, Phó Tổng Giám đốc Tư vấn thuế Deloitte Việt Nam thì cho rằng Việt Nam là một trong số những quốc gia nằm trong khu vực có thuế suất TNDN thấp, việc chênh lệch thuế so với các nước khác tạo điều kiện cho các DN có xu hướng chuyển lợi nhuận để tối đa hóa lợi nhuận của mình. Theo ông Tuấn, đối với việc quản lý giao dịch liên kết liên quan đến giá chuyển nhượng, Việt Nam đã theo sát những khuyến nghị của OECD và cũng tham gia vào chương trình hành động chống “Xói mòn cơ sở thu thuế và chuyển lợi nhuận” bằng việc ban hành các chính sách cụ thể, như Nghị định 20 quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết.

Đây là điều kiện tiên quyết thắt chặt những quy định của Việt Nam, cho phép các cơ quan thuế có quyền đăng nhập sâu hơn vào hoạt động DN, như yêu cầu DN cung cấp báo cáo lợi nhuận đa quốc gia; tăng cường mối liên hệ, trao đổi với cơ quan thuế của các nước khác, trên cơ sở đó đưa ra những phân tích đánh giá chính xác.

Điều này đã tạo nên những thay đổi rất lớn trong “ứng xử” của các DN, đặc biệt là DN có vốn đầu tư nước ngoài, buộc DN phải cân đối lại hoạt động kinh doanh, thu chi vì kể cả khi có hành động sắp đặt để chuyển giá trót lọt, cơ quan thuế vẫn có quyền truy thu khi thanh kiểm tra.

“Thay vì bị truy thu và chịu những hình phạt mang tính răn đe cao, các DN đã có những thay đổi tích cực trong sửa đổi các chính sách sản xuất, cân đối lại thu nhập”, ông Tuấn cho biết.

Đồng tình với quan điểm cho rằng chuyển giá là hiện tượng tự nhiên, tuy nhiên, bà Nguyễn Vân Chi, Uỷ viên thường trực Uỷ ban Tài chính Ngân sách cho rằng cần phải làm rõ đâu là những hoạt động chuyển giá đúng quy định và đâu là chuyển giá nhằm trốn thuế. Bên cạnh đó, bà Vân Chi đánh giá cao việc ra Nghị định 20 của Chính phủ để chủ động quản lý vấn đề này và đã đạt được nhiều hiệu quả tích cực. Dù vậy, bà Chi cho rằng vẫn cần cân nhắc để làm cho Nghị định này tới gần hơn với những quy định của OECD.

Theo đánh giá của Deloitte, các chính sách ưu đãi thuế TNDN của Việt Nam khá thuận lợi cho các DN với mặt bằng thuế suất khá thấp so với các quốc gia khác. Tuy nhiên, các chính sách ưu đãi thuế đang nghiêng theo hướng ưu đãi địa bàn hơn là theo lĩnh vực. Các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao chưa có cơ chế ưu đãi hợp lý.

Trên thực tế, thời gian hoàn thành thủ tục đầu tư kéo dài hơn rất nhiều so với quy định, đặc biệt tại khâu xin giấy phép (thời gian có thể kéo dài đến 2-3 tháng); chưa có sự đồng nhất, phối hợp giữa các cơ quan, dẫn đến chồng chéo trong thủ tục. Bên cạnh đó, nhiều DN nước ngoài đang gặp khó trong việc tiếp cận các thông tin giới thiệu đầu tư, hướng dẫn các thủ tục về đăng ký dự án và thành lập DN tại Việt Nam.

Đối với các chính sách về ưu đãi thuế, ông Bùi Ngọc Tuấn cho rằng cần đơn giản và minh bạch hóa thủ tục xin xác nhận bằng cách ứng dụng công nghệ thông tin. Bổ sung chính sách ưu đãi đối với một số ngành dịch vụ như giáo dục, tài chính… Đồng thời, học tập các quốc gia khác xây dựng cơ chế ưu đãi linh hoạt và đa dạng hơn: Kết hợp nhiều hình thức miễn/giảm, khấu trừ chi phí…

Nhận định lộ trình đơn giản hóa thủ tục đầu tư đang đi đúng hướng, ông Tuấn cho rằng cần tiếp tục lộ trình này bằng việc thực hiện cơ chế một cửa quốc gia và ASEAN, xây dựng các kênh thông tin tiếp cận nhà đầu tư…

Trên thực tế, ưu đãi đầu tư không phải là điều kiện quan trọng nhất khi nhà đầu tư tìm kiếm cơ hội đầu tư tại Việt Nam, đã có nhiều chính sách ưu đãi thuế cao đối với các dự án đầu tư vào địa bàn kinh tế-xã hội khó khăn, song các địa bàn này vẫn khó thu hút đầu tư, hoặc các chính sách ưu đãi riêng cho một số lĩnh vực như nông nghiệp, chế biến nông sản, thủy sản nhưng vốn đổ vào các lĩnh vực này còn khiêm tốn. “Chính sách ưu đãi thuế của Việt Nam còn khá phức tạp do phạm vi ưu đãi còn dàn trải (bao gồm cả ưu đãi theo lĩnh vực và ưu đãi theo địa bàn), nên chưa thật sự hấp dẫn đối với Nhà đầu tư nước ngoài”.

Vì vậy, để thu hút đầu tư, ngoài các chính sách ưu đãi cần tạo môi trường đầu tư thông thoáng, minh bạch; các thủ tục hành chính được giải quyết nhanh chóng, chính xác, kịp thời; chính sách ổn định, chính quyền vào cuộc để kịp thời giải quyết khó khăn, vướng mắc cho DN… “đây là những yếu tố quan trọng mà khi tìm kiếm cơ hội các nhà đầu tư hết sức quan tâm”, ông Văn nói.

Cũng tại Hội thảo này, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Vũ Đại Thắng cho biết, sau 30 năm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu về số vốn đăng ký, vốn giải ngân. Khu vực FDI ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, thể hiện qua các đóng góp xã hội, nộp ngân sách Nhà nước, tạo giá trị gia tăng. FDI cũng là tiền đề quan trọng giúp Việt Nam mở rộng quan hệ quốc tế.

Tuy nhiên, theo Thứ trưởng Vũ Đại Thắng, việc thu hút FDI còn nhiều hạn chế như chủ yếu gia công, tỉ lệ nội địa hoá thấp, chưa tạo liên kết với doanh nghiệp trong nước. “Từ việc nhìn nhận các điểm còn hạn chế, các cơ quan chức năng sẽ xây dựng chính sách thu hút FDI mới nhằm thu hút nhiều dự án đầu tư có chọn lọc, có công nghệ cao hơn trong thời gian tới”, Thứ trưởng Vũ Đại Thắng khẳng định.

--------------------

Nguồn: VGP Portal

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban biên tập (tổng hợp)
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202