Tin Kinh tế- xã hội  > Môi trường

Tình hình thực hiện chính sách về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính ở Việt Nam

Cập nhật lúc: 27/12/2018 02:00:00 PM

Việc đẩy mạnh các hoạt động công nghiệp trong những năm gần đây được cho là nguyên nhân chính làm gia tăng nhanh chóng nồng độ các khí nhà kính trong khí quyển, gây ra hiện tượng biến đổi khí hậu – gây tác động nghiêm trọng đến môi trường sinh thái, đe dọa cuộc sống của con người. Trước những diễn biến phức tạp của khí hậu, tất cả các quốc gia trong đó có Việt Nam đang nỗ lực tìm kiếm các giải pháp nhằm hạn chế tối đa sự phát thải khí nhà kính và được thể hiện thông qua việc tham gia và thực hiện các cơ chế, chính sách giảm nhẹ khí nhà kính (KNK)[1].

1.Tình hình thực hiện các Hiệp ước quốc tế tại Việt Nam và kết quả thu được

a.Tình hình thực hiện Nghị định thư Montreal

Theo Nghị định thư Montreal, mức tiêu thụ cơ sở là 500 tấn CFC, 5 tấn halon và 0,5 tấn CTC; Việt Nam có nghĩa vụ thực hiện lộ trình kế hoạch để thực hiện loại bỏ các chất này. Cụ thể: giảm 50% lượng tiêu thụ vào năm 2005; giảm 85% lượng tiêu thụ vào năm 2007 và loại bỏ hoàn toàn việc nhập khẩu và sử dụng các chất này từ ngày 1/1/2010. Tính đến ngày 1/1/2010, Việt Nam đã hoàn thành nghĩa vụ loại trừ hoàn toàn việc tiêu thụ các chất CFC và đang triển khai loại trừ các chất HCFC theo quy định của Nghị định thư từ nay đến năm 2030.

Cùng với đó, các cơ quan chức năng cũng thực hiện một loạt các biện pháp ngăn chặn sự phát triển của HCFC thông qua việc theo dõi việc nhập khẩu các hoá chất có hại cho tầng ozone vào Việt Nam; kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng các chất này tại các cơ sở sản xuất và sửa chữa thiết bị điện lạnh, chế biến xuất khẩu thuỷ sản cũng như trong sản xuất xốp panel và tấm lợp cách nhiệt; theo dõi việc sử dụng tiền hỗ trợ của Quỹ đa phương về ozone (với sự trợ giúp lên tới 7,3 triệu đôla) để chuyển đổi công nghệ, thiết bị nhằm bảo đảm được tính năng của chúng khi dùng các chất thay thế tạm thời. Nhờ vậy, Việt Nam trở thành một trong 60 nước đã nhận được chứng chỉ quốc tế về việc thực hiện đúng quy định đối với các nước thành viên của Nghị định thư Montreal vào năm 2010.

b.Tình hình thực hiện Công ước Khung về Biến đổi khí hậu (UNFCCC) và Nghị định thư Kyoto (KP)

Việt Nam là thành viên thuộc Bên không thuộc Phụ lục I của UNFCCC, tức là chưa có nghĩa vụ giảm phát thải KNK, nhưng sẽ phải thực hiện một số nghĩa vụ chung như: xây dựng các thông báo quốc gia, kiểm kê KNK; xây dựng và đánh giá các phương án giảm nhẹ KNK và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Việc kiểm kê khí nhà kính ở Việt Nam được thực hiện vào các năm 1994, 1998, 2000, 2010 cho các lĩnh vực: Năng lượng; các quá trình công nghiệp; nông nghiệp; lâm nghiệp và thay đổi sử dụng đất; chất thải. Hình 1 quy trình thực hiện phương pháp kiểm kê quốc gia khí nhà kính năm 2010 được thực hiện theo hướng dẫn của Ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC).

Hình 1: Sơ đồ tổ chức kiểm kê khí nhà kính năm 2010

Nguồn: Báo cáo cập nhập hai năm một lần lần thứ nhất của Việt Nam 2014

c.Tình hình thực hiện Cơ chế phát triển sạch (CDM)

Tháng 3 năm 2003, theo yêu cầu của Nghị định thư Kyoto và Thỏa thuận bổ sung Marrakech[1], Việt Nam đã thành lập Cơ quan quốc gia về CDM thuộc Văn phòng Ozone và biến đổi khí hậu, trực thuộc Bộ Tài nguyên và môi trường. Theo đó, hàng loạt các dự CDM được thực hiện như: dự án “Thu gom và sử dụng khí đồng hành tại mỏ Rạng Đông”; dự án thủy điện sông Côn, tỉnh Quảng Nam; dự án thủy điện Ngòi Đường, tỉnh Lào Cai,…

Tính đến tháng 6 năm 2014, Việt Nam có 253 dự án CDM và 11 Chương trình hoạt động theo CDM (PoA) được đăng ký và 10.068.987 Chứng chỉ giảm phát thải được chứng nhận (CER). Tổng lượng KNK giảm được của 253 dự án CDM khoảng 137 triệu tấn CO2 tương đương trong thời kỳ tín dụng. Việt Nam được xếp thứ tư về số lượng dự án CDM được đăng ký và xếp thứ 11 về lượng CER được cấp trên thế giới. Trong số các dự án CDM nói trên, dự án thuộc lĩnh vực năng lượng chiếm 88,19%, xử lý chất thải 9,96%, trồng rừng và tái trồng rừng 0,37% và các loại dự án khác 1,48% (Báo cáo cập nhập hai năm một lần lần thứ nhất của Việt Nam 2014).

Một số khó khăn khi thực hiện CDM tại Việt Nam

  • Thứ nhất, Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong tính toán phát thải nền để xác định mức giảm phát thải CO2 và các khí nhà kính khác khi xây dựng các dự án CDM cho nhiều lĩnh vực.
  • Thứ hai, do nhiều nguyên nhân, dự án CDM ở Việt Nam thường có quy mô vốn nhỏ so với một số nước. Hơn nữa, các chủ đầu tư lại chưa rành về vấn đề thủ tục vốn rất phức tạp, nên các dự án này chậm được thông qua.
  • Thứ ba, theo phản ánh của nhiều doanh nghiệp khi tiếp cận các dự án CDM thì họ vẫn đang gặp phải những khó khăn như: Thủ tục hành chính về cấp thư xác nhận và thư phê duyệt dự án CDM quá rườm rà, gây tốn kém về chi phí; các chính sách pháp luật chưa cụ thể và chưa có khung chiến lược phát triển CDM; thiếu cơ chế minh bạch, thuận tiện trong việc xác nhận và phê duyệt dự án CDM...
  • Một khó khăn khác nữa là vấn đề nguồn nhân lực. Ở Việt Nam, hiện rất khó tìm được các chuyên gia có kinh nghiệm về CDM để đảm nhận các thủ tục đăng ký một cách hiệu quả và nhanh chóng. Bên cạnh đó, nhận thức về CDM của cả các nhà hoạch định chính sách và công chúng còn thấp. Vì vậy, trong thời gian tới, cần khắc phục các trở ngại này để bảo đảm đạt được các mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài của CDM.

 

Tài liệu tham khảo

  1. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2000). Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu (bản dịch nguyên bản từ tiếng Anh). Hà Nội.
  2. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2000). Nghị định thư Montreal (bản dịch theo những sửa đổi, bổ sung mới nhất được cập nhập tháng 3-2000). Hà Nội.
  3. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2000). Nghị định thư Kyoto (bản dịch nguyên bản từ tiếng Anh). Hà Nội.
  4. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2014). Báo cáo cập nhập hai năm một lần lần thứ nhất của Việt Nam cho Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu, Nhà xuất bản Tài nguyên – Môi trường và Bản đồ Việt Nam, Hà Nội

 


[1] Hay còn biết đến như là cách thức làm thế nào để thực hiện KP, được đưa ra trong COP7

 


[1] Các KNK được xem xét theo Nghị định thư Kyoto bao gồm: CO2 (carbon dioxide), CH4 (methane), N2O (nitrousoxide), HFCs (hydrofluorocarbons), PFCs (perfluorocarbons), và SF6 (sulphur hexafluoride)[1][1].

 

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Hà Linh (Ban Tổng hợp)
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202