Tin Kinh tế- xã hội  > Môi trường

Kinh nghiệm áp dụng công cụ thuế trong quản lý chất thải rắn ở một số nước trên thế giới

Cập nhật lúc: 27/12/2018 03:00:00 PM

Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, do vậy những thách thức lớn về bảo vệ môi trường là điều không thể tránh khỏi, trong đó quản lý chất thải rắn đang là vấn đề nổi cộm nhất. Những năm gầy đây, lượng chất thải rắn đang ngày càng tăng lên cả về thành phần và mức độ nguy hại. Tình trạng này diễn ra ở các khu đô thị và các khu công nghiệp lại càng báo động. Chính vì vậy, việc áp dụng các công cụ kinh tế sẽ giúp vừa thực hiện được mục tiêu bảo vệ môi trường, giảm thiểu ô nhiễm, vừa tạo được nguồn thu cho ngân sách nhà nước, đặc biệt là sẽ nhận được sự đồng tình chấp nhận của cộng đồng dân cư và doanh nghiệp. Trong số đó, công cụ thuế được các nước trên thế giới áp dụng phổ biến và tương đối hiệu quả trong quản lý chất thải rắn. Phần phân tích bên dưới cho thấy bức tranh về kinh nghiệm sử dụng các công cụ kinh tế trong quản lý chất thải rắn tại một số quốc gia trên thế giới.

1.Kinh nghiệm áp dụng công cụ thuế tại Pháp

Ở Pháp, thuế bãi rác áp dụng cho chất thải rắn bắt đầu từ năm 1993. Tất cả những cá nhân hoặc tổ chức quản lý bãi rác (dù được cấp phép hay không) đều là đối tượng nộp thuế, trừ các bãi rác của chính doanh nghiệp. Đến năm 1999, thuế bãi rác đã được tích hợp trong thuế chung đánh vào các hoạt động gây ô nhiễm của Pháp (TGAP). Việc áp dụng công cụ thuế rác thải đối với các chủ thể sản xuất phát thải ở Pháp bước đầu đã thực hiện nguyên tắc “Người gây ô nhiễm trả tiền”. Đồng thời, thuế bãi rác ra đời cùng với các công cụ khác, nhằm mục đích tăng tái chế phế liệu, giảm số lượng các bãi chôn lấp và xóa bỏ 600 bãi chôn lấp bất hợp pháp vào năm 2002 (Schlegelmich, et al. 2010). 

Pháp đưa ra các mức thuế khác nhau tương ứng cho các loại bãi rác, cụ thể: mức thuế áp dụng cho bãi rác không đăng ký là 18,29 euro/tấn; bãi rác có đăng ký là 9,15 euro/tấn; và chỉ 7,5 euro/tấn cho bãi rác mà đáp ứng được các tiêu chuẩn môi trường EMAS (Eco Management Audit Scheme) hoặc ISO 14000. Tuy nhiên, từ năm 2009, Chính phủ Pháp đã có sự thay đổi về mức tính thuế bãi rác, theo đó với những bãi rác không đăng ký, mức thuế giảm xuống còn 15 euro/ tấn; mức thuế tương ứng cho bãi rác đăng ký và đạt tiêu chuẩn môi trường tăng lên 13 euro/tấn và 10 euro/tấn. Các mức thuế này được dự kiến tiếp tục tăng vào năm 2015.

Bên cạnh đó, Pháp đã thành lập một kế hoạch hành động trong 5 năm từ năm 2007, về quản lý chất thải rắn mang tên "Grenelle environement". Trong bản kế hoạch này, Pháp đưa ra các mục tiêu cụ thể như giảm lượng phát sinh chất thải từ các hộ gia đình hay nâng tỷ lệ tái chế rác thải rắn theo từng năm đồng thời hạn chế tối đa lượng rác thải đem đi chôn lấp hoặc thiêu hủy (Schlegelmich, et al. 2010)

Theo thống kê, mặc dù tổng lượng chất thải rắn đô thị của Pháp có xu hướng tăng lên giai đoạn 2001-2010, từ khoảng 32.198 nghìn tấn đến 34.535 nghìn tấn (tương đương tăng 7%), tuy nhiên lượng rác thải đô thị phát sinh bình quân đầu người có xu hướng giảm xuống. Thành công này có được là do Pháp đã áp dụng thuế bãi rác cho chất thải rắn từ khá sớm. Số tiền thu được từ việc thu thuế bãi rác (ngoài thuế thu được từ việc đốt rác) được sử dụng để thúc đẩy các biện pháp xử lý chất thải, nâng cấp và phục hồi các bãi chôn lấp (Gentil, 2013).

2.Kinh nghiệm áp dụng công cụ thuế tại thành phố Catalonia (Tây Ban Nha)

Chính quyền Catalonia áp dụng thuế bãi rác và thiêu đốt đối với tất cả rác thải ở đô thị từ năm 2004. Theo quy định của thành phố, rác thải đô thị bao gồm tất cả các chất thải phát sinh từ các hộ gia đình, cửa hàng, văn phòng, rác thải phát sinh từ việc làm sạch vệ sinh công cộng, đường phố, khu vực bãi biển, hoạt động xây dựng,… Người nộp thuế là các chủ thể phát sinh chất thải rắn đô thị. Người quản lý bãi rác có trách nhiệm thu tiền thuế này để chuyển cho quỹ được thành lập riêng cho khu vực đó. Chủ bãi rác có nghĩa vụ sắp xếp để các chủ thể phát thải thanh toán tự động theo quý.
Đến năm 2010, thành phố đã có hệ thống thuế suất đầy đủ áp dụng cho loại rác tách và không tách chất thải sinh học[1] với mức thuế thấp nhất đưa ra là 10 euro/tấn; ở các thành phố không phân loại rác thải sinh học sẽ chịu mức thuế lên tới 20 euro/tấn. Đối với rác ở các đô thị, thuế suất đốt là 5 euro/tấn và rác thải chưa tách chất thải sinh học là 15 euro/tấn . 
Nhờ áp dụng công cụ thuế, doanh thu đem lại cho Catalonia tương đối lớn. Năm 2004, số tiền thu được đạt 32,2 triệu EUR và đến năm 2009 số tiền giảm xuống chỉ còn 25,1 EUR. Điều này được lý giải là do lượng rác thải rắn thải ra các bãi rác có xu hướng giảm xuống từ khi áp đặt thuế bãi rác. Số tiền thu được từ thuế bãi rác dành cho quỹ quản lý rác thải. Trong đó, một phần quỹ này được phân bổ lại cho chính quyền thành phố Catalonia để cải thiện việc quản lý chất thải rắn ở đây (Christian, et al. 2012). 

3.Kinh nghiệm áp dụng công cụ thuế tại Áo

Từ năm 1996, Áo bắt đầu áp dụng thuế suất để quản lý chất thải rắn phát thải tại nước mình. Mức thuế xây dựng có sự khác biệt dựa trên đặc điểm kỹ thuật, chất lượng của các bãi chôn lấp cũng như các loại chất thải. Từ năm 2006, mức thuế cơ bản được Áo áp dụng là 87 euro/tấn. Ngoài ra, Áo còn áp dụng thêm mức phụ phí khoảng 29 euro/tấn nếu các bãi rác thải không có tầng hầm hoặc hệ thống hàng rào bao quanh. Mức phụ phí này cũng áp dụng cho các bãi chôn lấp rác thải đô thị hoạt động mà không có hệ thống xử lý và thu hồi khí thải. Cơ quan hải quan địa phương là đơn vị chịu trách nhiệm thu thuế bãi rác.

Theo Cơ quan Môi trường của Áo, sau một thời gian áp dụng, việc đưa ra mức thuế dựa trên sự khác biệt đối với mỗi loại bãi rác đã tạo động lực khuyến khích trong việc hiện đại hóa và nâng cấp các bãi rác chưa đạt tiêu chuẩn ở Áo. Số liệu thống kê cho thấy, lượng phát sinh chất thải rắn tại đô thị của Áo khá ổn định trong giai đoạn 2001-2010, trừ năm 2006 lượng chất thải bình quân đầu người có dấu hiệu tăng vọt. Trong vòng 10 năm từ 2001-2010, khối lượng tăng xấp xỉ 7% từ 4,63 triệu tấn năm 2001 lên 4,96 triệu tấn năm 2010. Trong khi đó, lượng chất thải thải ra từ các hộ gia đình giảm khoảng 34% trong vòng 5 năm từ 2004 đến 2009. Tổng lượng chất thải chôn lấp tại các bãi rác giảm 28% giai đoạn 2003-2010  (Márton, 2013).

Doanh thu thu được từ tiền thuế được dành để khắc phục hậu quả các vùng đất bị ô nhiễm. 85% tổng doanh thu được sử dụng để thực hiện các biện pháp phục hồi an toàn, nghiên cứu về công nghệ phục hồi; 15% được sử dụng cho việc xác định, nghiên cứu và làm sạch vùng bị ô nhiễm (Oosterhuis & Bartelings, 2009).

4.Kinh nghiệm áp dụng công cụ thuế tại Đan Mạch

Lượng chất thải phát sinh tại Đan Mạch tương đối lớn, trong giai đoạn 2001-2010, mức phát thải chất thải rắn đô thị bình quân đầu người cao nhất năm 2008 là 830 kg/người, sau đó giảm xuống còn 673 kg/người năm 2010. Việc quản lý chất thải rắn ở Đan Mạch khá đặc trưng với tỷ lệ đốt rác cao nhất trong khối các nước châu Âu, lên tới 54% vào năm 2010 (Kjær, 2013).

Năm 1985, lượng rác thải ở các hộ gia đình ở Đan Mạch thải ra chôn lấp chiếm tới 33% diện tích bãi rác. Chính vì vậy, quốc gia này đã áp dụng công cụ thuế để quản lý chất thải rắn từ rất sớm, bắt đầu từ năm 1987. Mức thuế này áp dụng cả cho việc tiêu hủy và chôn lấp. Mục đích chính nhằm ngăn chặn sự phát sinh chất thải cũng như khuyến khích sự tái chế trực tiếp hoặc tận dụng thu hồi năng lượng bằng cách đốt, thay vì được chôn lấp.

Từ năm 1993, mức thuế thiêu đốt thấp hơn một chút so với thuế chôn lấp. Sau đó, giai đoạn 2003-2005, mức thuế đốt là 330 DKK (tương đương 44 euro/tấn và thuế chôn lấp là 375 DKK (tương đương 50 euro/tấn). Trong khi đó, giai đoạn 1997-2001, mức thuế thấp hơn được áp dụng cho việc đốt rác thải để thu hồi năng lượng so với việc đốt cháy mà không thu hồi năng lượng (Oosterhuis & Bartelings, 2009).

Nhờ áp dụng công cụ thuế đánh vào chất thải rắn, lượng rác thải đem chôn lấp ở Đan Mạch giảm đáng kể, đặc biệt là rác thải sinh hoạt, chất thải xây dựng và chất thải hỗn hợp.

 

Tài liệu tham khảo

  1. Christian, F., Mathias, L., & Lindsay, M. D. (2012). Overview of the use of landfill taxes in Europe. Copenhagen: European Topic Centre on Sustainable Consumption and Production.
  2. Gentil, E. C. (2013). Municipal waste management in France. Copenhagen: European Environment Agency.
  3. Kjær, B. (2013). Municipal waste management in Denmark. Copenhagen: European Environment Agency.
  4. Márton, H. (2013). Municipal waste management in Austria. Copenhagen: European Environment Agency.
  5. Oosterhuis, F. H., & Bartelings, H. (2009). Economic instruments and waste policies in the Netherlands; Vincent G.M. Linderhof; Pieter J.H. van Beukering. Amsterdam: Institute for Environmental Studies.
  6. Schlegelmich, K., Meyer, E., & Ludewig, D. (2010). Economic Instruments in the waste management sector. Berlin: Green Budget Germany (GTZ).

 


[1] Rác sinh học là rác thải thải chứa hoặc đã bị ô nhiễm bởi các tác nhân độc hại (Theo www.purdue.edu )

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Hà Linh (Ban Tổng hợp)
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Số lượt truy cập : 1097202