Tin Kinh tế- xã hội  > Kinh tế thế giới > Trung Quốc

Những hoài nghi về Hành động mang tính bảo vệ môi trường trong chiến lược OBOR của Trung Quốc

Cập nhật lúc: 10/12/2018 09:00:00 AM

Trước hết có thể nhận thấy, cơ chế huy động tài chính trước hết cho OBOR dựa phần lớn vào ngân hàng chính sách như  AIIB và quỹ đầu tư tài chính như Quỹ con đường tơ lụa (SRF). Trong khi đó, hai tổ chức cung cấp vốn đầu tư này không đưa ra điều kiện khắt khe về bảo vệ môi trường như ADB hay WB…

Đối với con đường trong đất liền, các nhà môi trường cho rằng các chính sách đầu tư, thương mại trong chiến lược OBOR sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường tự nhiên của các nước nhận đầu tư và bản thân Trung Quốc khó có thể đi khác con đường mà các nước phương Tây trong vấn đề hiện đại hoá sinh thái.

Trước tiên, xem xét về ý tưởng Hiện đại hóa sinh thái của Trung Quốc. Theo giả thuyết Curve của Kuznet về môi trường thì mối quan hệ giữa tăng trưởng và môi trường là một hình chữ U ngược: chất lượng môi trường xấu đi trong giai đoạn đầu của tăng trưởng kinh tế và cải thiện sau khi xã hội vượt qua ngưỡng nhất định trong phát triển kinh tế xã hội vượt ra khỏi những nhu cầu cơ bản của con người, các công nghệ sạch sẽ được phát triển bao gồm những biện pháp bảo vệ môi trường, thường được thể hiện bằng sự sẵn sàng trả thêm tiền cho trách nhiệm môi trường của sản phẩm. Trong khi đó, các chính quyền địa phương của Trung Quốc thường ưu tiên hàng đầu là sự tăng trưởng và phát triển kinh tế nên thường không báo cáo về các trường hợp ô nhiễm môi trường. Bởi vì điều đó ảnh hưởng lớn đến khả năng thu hút và duy trì FDI của các địa phương. Do vậy, điều đó đi ngược lại tư tưởng Hiện đại hoá sinh thái trong chiến lược OBOR. Hơn nữa, hiện nay nền kinh tế Trung Quốc đang trong tình trạng khủng hoảng (Ví dụ như ngành thép, xi măng, ngô…) nên chi phí cho trách nhiệm môi trường tăng cao. Do đó, việc đầu tư ra nước ngoài là cách đẩy khéo léo chi phí về môi trường cho các nước có trình độ phát triển kém hơn của Trung Quốc.

Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã đưa cả ba yếu tố hiện đại hóa sinh thái[1] vào quản trị môi trường trong nước. Thứ nhất, số lượng ngày càng tăng của các công ty Trung Quốc đã theo đuổi các biện pháp môi trường bên ngoài các tiêu chuẩn chính thức được áp dụng, chủ yếu là dưới áp lực bên ngoài (thị trường), cho các tiêu chuẩn sinh thái cao hơn. Ví dụ như Tiêu chuẩn ISO 14001 do Tổ chức Tiêu chuẩn hoá Quốc tế (International Organization for Standardization) đưa ra là một khuôn khổ chung để xử lý các vấn đề môi trường trong công ty. Tuy nhiên, mặc dù các tiêu chuẩn tự nguyện tăng lên, các công ty hoạt động tại Trung Quốc, bao gồm các tập đoàn phương Tây, tiếp tục gây ô nhiễm ở mức cao hơn nhiều so với các nước phương Tây. Đối với nhiều công ty đa quốc gia, Trung Quốc vẫn là "thiên đường ô nhiễm chi phí thấp", hấp dẫn với chi phí lao động thấp và các tiêu chuẩn môi trường thấp hơn

Xét đến chỉ số thứ hai về hiện đại hóa sinh thái - sự tham gia của xã hội dân sự trong việc ra quyết định, là điểm yếu nhất trong sự thay đổi của Trung Quốc. Tiếng nói của xã hội dân sự tham gia quá yếu ớt vào việc thảo luận, xây dựng và phản hồi về chính sách môi trường của Trung Quốc. Do đó, các cuộc biểu tình ngày càng gia tăng chống ô nhiễm môi trường đã gây áp lực lên chính phủ Trung Quốc để chú ý tới những lo ngại của công chúng hơn. Các hình thức và phạm vi của những cuộc biểu tình này đã trải qua một sự thay đổi mạnh mẽ, từ những cuộc biểu tình quy mô nhỏ về các vấn đề liên quan đến quyền sở hữu, nhiều vấn đề về không gian công cộng và quyền công dân đòi hỏi sự kiểm soát của công chúng Chất lượng không khí, nước và các nguy cơ môi trường lớn liên quan đến phát triển công nghiệp và cơ sở hạ tầng. Sự suy thoái môi trường hiện nay là nguyên nhân hàng đầu cho hơn 180.000 cuộc biểu tình phổ biến ở Trung Quốc mỗi năm

Hơn nữa, trên thực tế, hiện đại hóa sinh thái của Tây Âu đã đạt được một phần thông qua việc chuyển các ngành công nghiệp gây ô nhiễm sang các nước công nghiệp hoá kém hơn, và do đó từ góc độ toàn cầu, thiệt hại về môi trường được xuất khẩu chứ không phải là giảm thực sự. Liệu Trung Quốc có thể tạo con đường mới cho riêng mình?

Những dự án có vốn đầu tư từ Trung Quốc đã có những tác động nguy hiểm tới sự phát triển bền vững của nền kinh tế vì liên quan tới các vấn đề ô nhiễm môi trường, tiêu chí xả thải không đúng quy định...

Đặc biệt là trong thời gian qua, Trung Quốc đã đẩy mạnh tái cấu trúc nền kinh tế, bảo vệ môi trường. Vì thế có nhiều ngành nghề năng suất không cao, chất lượng không tốt hoặc là có mức độ ô nhiễm môi trường lớn thì quốc gia này đã cấm không cho sử dụng. Do đó, thông qua chiến lược OBOR, các nhà đầu tư từ Trung Quốc sẽ tìm cách đẩy các công nghệ, thiết bị cũ sang các nước kém phát triển hơn. Nhiều dây chuyền, thiết bị công nghệ trong các ngành như: xi măng, luyện gang thép, giấy... và các ngành công nghiệp khác của Trung Quốc sẽ được đẩy mạnh đầu tư sang các nước kém phát triển hơn, trong đó có Việt Nam.

Tại Trung Quốc, mối quan ngại về sương khói quang hóa (smog) và biến đổi khí hậu đã thúc đẩy việc chuyển hướng sang các nguồn năng lượng tái tạo. Đồng thời, tăng trưởng kinh tế chậm lại và sự chuyển đổi dần dần nền kinh tế Trung Quốc từ sản xuất công nghiệp nặng sang tiêu dùng cũng khiến nhu cầu điện than giảm xuống. Các nhà máy điện than hiện nay đang hoạt động dưới mức công suất vì nhu cầu tiêu thụ đã giảm đáng kể.

Trong khi đó, theo số liệu của Urgewald, một tổ chức môi trường ở Đức, các công ty Trung Quốc đang xây dựng hoặc lên kế hoạch xây dựng hơn 700 nhà máy điện than ở trong và ngoài Trung Quốc. Điển hình như việc Trung Quốc xây dựng đường ống dẫn dầu chiến lược của Trung Quốc qua Myanma[2].

Tập đoàn Shanghai Electric ( Điện lực Thượng Hải), một trong những nhà sản xuất thiết bị điện lớn nhất Trung Quốc, đã công bố kế hoạch xây dựng các nhà máy điện than ở Ai Cập, Pakistan và Iran với tổng công suất 6.285 Megawatt (MW) – gần gấp 10 lần so với công suất điện than 660MW mà tập đoàn này đã lên kế hoạch ở Trung Quốc.

Tập đoàn Kỹ thuật Năng lượng Trung Quốc (CEE), vốn không có kế hoạch phát triển điện than ở Trung Quốc, đang xây dựng các nhà máy điện than công suất 2.200 MW ở Việt Nam và Malawi.

Theo dữ liệu do Urgewald công bố, trong số 20 tập đoàn điện than lớn nhất thế giới, có tới 11 là của Trung Quốc[3].

Bên cạnh ngành than, Trung Quốc cũng thực hiện chính sách tương tự đối với ngành thép. Chính quyền của ông Tập Cận Bình đang rất muốn chuyển hướng nền kinh tế nước này từ chế tạo sản xuất, công nghiệp nặng và công nghiệp thô sang một nền kinh tế công nghệ cao do đó đã có những chính sách “bật đèn xanh” cho ngành này. Hội nghị thượng đỉnh G20 vừa qua tại Hàng Châu cũng đã thể hiện rõ ý định này của nước chủ nhà. Bắc Kinh muốn giảm 150 triệu tấn thép sản lượng trong thời gian năm năm. Để thoát cảnh bị “triệt đường sống”, những doanh nghiệp thép Trung Quốc tìm cách xuất khẩu kinh nghiệm và công nghệ của mình ra nước ngoài. Theo tờ Nhân Dân Nhật Báo ngày 17/5/2017 cho biết Trung Quốc đang dự định sản xuất 10 triệu tấn thép/năm tại Brazil. Trong đó 1/3 dự án khổng lồ này sẽ được nắm bởi liên minh các nhà sản xuất thép chất lượng cao của Trung Quốc. Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng đủ sức bước chân vào những thị trường yêu cầu cao như Ấn Độ hay Brazil. Những doanh nghiệp nằm ngoài tốp đầu, không đủ sức theo đuổi các công nghệ luyện thép chất lượng cao và ít ô nhiễm sẽ “tái định cư” ở các nền kinh tế kém phát triển hơn như châu Phi và các nước Đông Nam Á.

Không chỉ ngành thép, nhiều ngành công nghiệp góp phần gây ô nhiễm nặng nề tại Trung Quốc, như sản xuất xi măng và thủy tinh, cũng được lên kế hoạch “tái định cư” đến châu Phi, Mỹ La tinh, Đông Âu và nhiều nước châu Á. Theo hãng thông tấn Tân Hoa xã, sản lượng 20 triệu tấn thép và 30 triệu tấn xi măng sẽ được chuyển ra nước ngoài, lộ trình đến năm 2023.

Tất cả những hành động trên của Trung Quốc khiến thế giới hoài nghi về một chiến dịch xanh thông qua chiến lược OBOR như nước này vẫn tuyên bố tại các Hội nghị toàn cầu. Phải chăng chiến lược này nhằm giải quyết “sản lượng dư thừa” và“xuất khẩu ô nhiễm” của Trung quốc sang các nước kém phát triển hơn để giải quyết bài toán vấn nạn ô nhiễm tại nước này?

Ngay cả những dự án mang tính xanh hơn của Trung Quốc vẫn ảnh hưởng xấu đến môi trường tự nhiên. Ví dụ như xây dựng một số nhà máy thuỷ điện ở vùng Viễn Đông Nga nhằm đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng tăng của Trung Quốc và giúp nước này giảm sự phụ thuộc vào nhiên liệu hoá thạch và giảm mức phát thải CO2. Tuy nhiên, việc xây dựng các con đập mới sẽ gây nguy hiểm cho sự ổn định của các hệ sinh thái nước ngọt ở lưu vực sông Amur. Việc xây dựng các hồ chứa thủy điện Zeya và Bureya đã dẫn tới việc phá huỷ các khu rừng rộng lớn và đầm lầy. Những thay đổi thuỷ văn không tự nhiên đã làm suy thoái vùng đất ngập nước lũ, ảnh hưởng đến hệ sinh thái của hơn một nghìn cây số sông Amur, làm rối loạn sự di chuyển của con nai sói Siberi và làm ngập một số khu bảo tồn khu vực và quốc gia[4].

Trong vài năm gần đây, Chính phủ Trung Quốc đã có một bước đi quyết định để ngăn chặn sự xuống cấp của hệ sinh thái rừng tự nhiên của mình. Đối phó với những áp lực ngày càng gia tăng đối với các khu rừng tự nhiên còn lại của nó, chính phủ đã công bố một chiến lược bảo vệ rừng mới, tuyên bố ngừng khai thác gỗ thương mại ở các khu rừng tự nhiên ở các tỉnh lựa chọn của Trung Quốc, nhằm chấm dứt việc khai thác gỗ ở các rừng nguyên vẹn trên khắp Trung Quốc vào năm 2020. Tháng 4 năm 2014, chính quyền tỉnh Heilongjian, chiếm 30% nguồn cung cấp gỗ trong nước của Trung Quốc, tuyên bố một lệnh cấm khai thác gỗ ở tất cả các rừng của bang cấp tỉnh trước đây bị suy thoái trầm trọng do hàng thế kỷ sử dụng nặng và phát triển nhanh trong sản xuất và chế biến gỗ. Tuy nhiên, các chính sách trong nước có kế hoạch tốt này, đồng thời bảo vệ các khu rừng tự nhiên còn lại của Trung Quốc, đã có tác động tiêu cực đối với nhiều khu rừng ở nước ngoài. khi nhu cầu gỗ vẫn cao tại Trung quốc buộc các doanh nghiệp phải nhập khẩu gỗ từ các nước khác, điều đó gián tiếp làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái của các nước xuất khẩu gỗ.

Đối với con đường trên biển, để thực hiện “giấc mơ Trung Hoa”, Trung Quốc đã đưa ra tuyên bố về việc xây dựng “con đường tơ lụa” trong đó nhấn mạnh tới sự phát triển xanh, bền vững. Trên thực tế, “Con đường tơ lụa” của Trung Quốc nếu hoàn thành có thể được sử dụng vào cả hai mục đích quốc phòng và thương mại. Bên cạnh đó, “con đường tơ lụa” của Trung Quốc đặt ưu tiên xây dựng các cơ sở quân sự quan trọng, chưa quan tâm tới các vấn đề khác, nhất là vấn đề bảo vệ môi trường, thậm chí gây hại cho môi trường biển.

Trong cuộc Hội thảo thường niên tại tại Viện Walker, ĐH South Carolina, Mỹ, tháng 11/2016, các học giả đã phân tích, đánh giá, dẫn chứng chứng minh thông qua hoạt động nạo vét đáy biển một cách có chủ ý và xây dựng đảo nhân tạo, Trung Quốc đã hủy hoại môi trường sinh thái và các rạn san hô một cách nghiêm trọng. Điển hình là các hoạt động tôn tạo, xây dựng trái phép của Trung Quốc tại đá Chữ Thập (trên quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam), những hoạt động này đã làm thay đổi hoàn toàn diện mạo đá Chữ Thập, đồng thời biến nó từ một đá tự nhiên thành đảo nhân tạo, làm hủy hoại hệ sinh thái tại đây. Trên thực tế, ngư dân Trung Quốc đã sử dụng các “tàu cắt” để khai thác loài trai khổng lồ tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam nhằm lấy vỏ chế tác thành các đồ trang sức đắt tiền. Phương pháp khai thác của họ là sử dụng các “tàu cắt” để nạo vét lớp đáy biển.  Những lớp nạo vét sau đó được gom lại thành những núi lớn phục vụ cho việc bồi đắp, xây dựng các đảo nhân tạo. Hoạt động này cũng đã gây thiệt hại không thể khắc phục cho các rạn san hô và môi trường sinh thái xung quanh.  Theo ước tính, các hoạt động của Trung Quốc tại Biển Đông đã gây thiệt hại cho khoảng 159/162 km2 san hô tại vùng biển này. Trong đó hoạt động tôn tạo, gia cố đảo của Trung Quốc gây thiệt hại khoảng 14/15 km2; hoạt động nạo vét của Trung Quốc gây thiệt hại khoảng 39/40 km2; hoạt động nạo vét làm bến đỗ, kênh rạch cho tàu thuyền đi lại của Trung Quốc gây thiệt hại khoảng 2/3 km2; hoạt động khai thác trai khổng lồ của Trung Quốc gây thiệt hại khoảng 104/104 km2. Điều này làm nảy sinh quan ngại cho rằng, Trung Quốc sẽ tiếp tục bất chấp dư luận, tiến hành các hoạt động nạo vét, xây dựng đảo nhân tạo tại Scarborough nhằm hình thành miếng ghép cuối cùng của “tam giác chiến lược” gồm đảo Phú Lâm (Hoàng Sa, mà Trung Quốc đang chiếm đóng trái phép của Việt Nam)-đá Chữ Thập (Trường Sa) và bãi Scarborough và thông qua đó kiểm soát toàn bộ Biển Đông. 

Bên cạnh các hoạt động tôn tạo, xây dựng đảo nhân tạo tại Biển Đông, các hoạt động đánh bắt cá tận diệt, không đúng quy định tại Biển Đông cũng vẫn đang tiếp diễn, gây nguy cơ suy giảm các loài sinh vật biển đồng thời đe dọa tới an ninh lương thực của khu vực.

 


[1] Trong số các yếu tố khác nhau của hiện đại hóa sinh thái, ba tính năng sau đây được đề cập một cách nhất quán trong toàn bộ tài liệu: (1) chuyển giao quyền lực cho các cấp cao hơn (thấp hơn quốc tế) hoặc thấp hơn (cấp địa phương) về các cấu trúc ra quyết định về môi trường, "Suy nghĩ toàn cầu, hành động tại địa phương", (2) dựa vào phương pháp tiếp cận thị trường để giải quyết các vấn đề môi trường, ngoài các công cụ chính sách chỉ huy và kiểm soát truyền thống. Các phương pháp tiếp cận này thường sử dụng các công cụ chính sách giúp nội hoá chi phí tổn thất về môi trường (ví dụ thuế ô nhiễm, giấy phép có thể mua bán, các chương trình chứng nhận); Và (3) một quá trình hoạch định chính sách tích hợp hơn, cũng như việc theo dõi và phản hồi chính sách giữa chính phủ, ngành công nghiệp, khoa học và xã hội dân sự (Hajer 1995 Hajer, Maarten 1995) Chính trị của bài thuyết trình về môi trường Hiện đại hóa sinh thái và quá trình chính sách New York: Nhà xuất bản Đại học Oxford

 

[2] http://thanhnien.vn/kinh-doanh/duong-ong-chien-luoc-cua-trung-quoc-qua-myanmar-824859.html

[3] Xét tổng thể, các dự án điện than mới của các tập đoàn Trung Quốc có tổng công suất từ 340.000 đến 386.000 MW, theo Urgewald ước tính. Một nhà máy điện than điển hình có công suất khoảng 500 MW và đốt cháy 1,4 triệu tấn than mỗi năm, đủ để cung cấp điện cho gần 300.000 hộ gia đình.

 

[4] Nikitina, Oxana, Evgeny Simonov, và Evgeny Egidarev năm 2015. "Thích ứng lũ lụt sông ở lưu vực Amur và Bảo tồn thiên nhiên”

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ths. Nguyễn Linh Chi (Ban Kinh tế thế giới)
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202