Tin Kinh tế- xã hội  > Xã hội

Thực trạng tiếp cận giáo dục của người di cư

Cập nhật lúc: 28/12/2018 10:00:00 AM

Kết quả điều tra Di cư nội địa quốc gia 2015 của Tổng cục Thống kê cho thấy 17,3% dân số trong độ tuổi 15-59 là người di cư. Kết quả suy rộng cho thấy người di cư chiếm 13,6% dân số cả nước. Di cư đến chiếm tỷ lệ lớn nhất với 16,0% số người. Người di cư đến chiếm 18,7% dân số thành thị và 11,7% dân số nông thôn. Di cư đến dường như có liên hệ mật thiết với tình trạng kinh tế của nơi đến. Đông Nam Bộ, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long và Hà Nội thu hút được lượng người di cư đến lớn nhất. Trong khi những vùng kinh tế khó khăn như Trung du và miền núi phía Bắc và Tây Nguyên có tỷ lệ người xuất cư cao nhất.

Bảng 1. Tỷ lệ người di cư nhóm tuổi 15-59 năm 2015 (%)

Nguồn: Tổng cục Thống kê (Điều tra DCNĐQG 2015)

Dòng di cư NT - TT vẫn chiếm tỷ lệ lớn nhất. Gần một nửa số người di cư đến là di cư từ nông thôn ra thành thị, để học tập và làm việc. Điều này được xác nhận khi xem xét cơ cấu tuổi của người di cư. Nhìn chung, người di cư có tuổi khá trẻ so với người không di cư. Hình 1 cho thấy phần lớn người di cư tập trung ở nhóm tuổi 15-34, cao nhất là nhóm 20-24 (nhóm tuổi đang đi học đại học, cao đẳng, nghề hoặc mới tốt nghiệp và đang tìm việc làm). 

Hình 1. Phân bố theo nhóm tuổi của người di cư và không di cư (%)

Nguồn: TCTK (Điều tra DCNĐQG 2015)

Trẻ em di cư thiệt thòi hơn trẻ em thường trú trong việc tiếp cận giáo dục. Tỷ lệ trẻ em di cư chưa từng đi học có sự cải thiện theo thời gian, nhưng vẫn cao hơn tỷ lệ tương ứng của trẻ em không di cư (Bảng 2). Tình trạng tương tự cũng được quan sát với tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường (gồm trẻ em chưa từng đi học và trẻ đã từng đi học nhưng hiện đã thôi học). Hình 3 cho thấy tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường năm 2014 thấp hơn của năm 2009 cho cả nhóm di cư và không di cư, nhưng vẫn còn 7,9% trẻ em di cư ngoài nhà trường, cao hơn tỷ lệ 6,6% của trẻ em thường trú. Các trường hợp này có thể là (1) trẻ em thôi học di cư tìm việc làm hoặc (2) con em người lao động di cư, đặc biệt là công nhân các khu công nghiệp, người lao động trong khu vực phi chính thức không đủ điều kiện đến trường do không có hộ khẩu thường trú, hoặc không đủ giấy tờ cần thiết, trong khi các trường học ở nơi nhập cư không đủ đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người nhập cư.

Tỷ lệ trẻ em di cư ngoài nhà trường trong độ tuổi THCS cao hơn trẻ em trong độ tuổi học tiểu học. Nếu tính chung cho độ tuổi 5-17 thì tỷ lệ này lớn hơn nhiều cho thấy thậm chí trẻ em di cư trong độ tuổi THPT ngoài nhà trường còn cao hơn trong độ tuổi THCS. Hiện tượng này có thể liên quan đến tình trạng trẻ em trong độ tuổi 11-17 di cư để tìm việc làm.

Bảng 2. Tỷ lệ người chưa từng đi học theo tình trạng di cư (%)

Nguồn: TCTK (TĐTDS 2009, Điều tra Dân số và Nhà ở giữa kỳ 2014) dẫn theo UNICEF (2016); TCTK (Điều tra DCNĐQG 2015)

Hình 2. Tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường theo tình trạng di cư (%)

Nguồn: UNICEF (2016) (Tổng điều tra Dân số và Nhà ở 2009, Điều tra Dân số và Nhà ở giữa kỳ 2014)

Người di cư có tỷ lệ hoàn thành THPT trở lên cao hơn, nhưng tỷ lệ chưa đi học hoặc hoàn thành các cấp học phổ thông khác thấp hơn người không di cư. Hình 3 cho thấy năm 2015, 1,3% người di cư trong độ tuổi 15-59 chưa bao giờ đi học, gấp 3 lần người không di cư. Tỷ lệ người không di cư hoàn thành tiểu học gấp đôi người di cư (22,4% so với 10,4%), và tỷ lệ tốt nghiệp THCS cao hơn (21,0% so với 17,2%). Đa số người di cư có tuổi đời trẻ và di cư vì mục đích học tập và làm việc nên tỷ lệ người di cư tốt nghiệp phổ thông trung học hoặc từ cao đẳng chuyên nghiệp cao hơn người không di cư.

Hình 3. Cơ cấu theo trình độ học vấn theo tình trạng di cư năm 2015 (%)

Nguồn: Tính toán của nhóm nghiên cứu dựa trên Điều tra DCNĐQG 2015

Ghi chú: Số liệu tổng số tính cho dân số 15-59 tuổi

Tỷ lệ người di cư hoàn thành bậc tiểu học và THCS thấp hơn người thường trú có thể liên quan đến tình trạng khó khăn khi tìm trường học cấp phổ thông. Theo Điều tra Di cư nội địa quốc gia 2015, một trong những khó khăn của người di cư là không tìm được trường cho con. Khoảng 1,6% người di cư gặp phải khó khăn này; và nguyên nhân chính là do chưa có đăng ký hộ khẩu; 13,5% tổng số người di cư và 16,2% người di cư đến chưa đăng ký hộ khẩu. Người chưa đăng ký hộ khẩu và gặp khó khăn khi tìm trường cho con chiếm 2,3%. Trẻ em không có đăng ký hộ khẩu gặp khó khăn khi đăng ký học tại trường công do nhiều trường học công ưu tiên học sinh có hộ khẩu thường trú và nói chung còn có sự phân biệt với người tạm trú. Trẻ em tạm trú ít có cơ hội nhập học hơn, đặc biệt ở cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông và trẻ em tạm trú có xu hướng đăng ký học ở trường tư cao hơn (Nhóm Ngân hàng Thế giới, 2016). Một số địa phương (ví dụ như Thành phố Hồ Chí Minh) có chủ trương cung cấp cơ hội giáo dục cho mọi trẻ em. Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng không đủ đáp ứng số lượng người nhập cư cùng trẻ nhập cư tăng nhanh nên trẻ em di cư phải đi học các trường ngoài công lập, trường công lập ở xa hoặc học chương trình giáo dục phổ cập (UNICEF, 2016).

Hình 4. Cơ cấu loại trường đang theo học của trẻ em 5-17 tuổi theo tình trạng di cư năm 2016 (%)[1]

Nguồn: Tính toán của nhóm nghiên cứu dựa trên số liệu VHLSS 2016

Đáng tiếc là Điều tra Di cư nội địa quốc gia 2015 không có các câu hỏi về tình trạng đang đi học, loại trường học và các chi phí giáo dục nên để chỉ ra sự khác biệt về loại trường học theo tình trạng di cư, nhóm nghiên cứu phải sử dụng số liệu VHLSS. Phân tích số liệu VHLSS 2016 cho thấy tỷ lệ người di cư đi học các trường ngoài công lập cao hơn người không di cư. Năm 2016 chỉ có khoảng 1,3% người không di cư học các trường ngoài công lập, trong khi có khoảng 5,4% người di cư học ở trường ngoài công lập. Theo đó, tỷ lệ học sinh di cư trong độ tuổi đi học phổ thông ở các trường ngoài công lập lớn hơn khá nhiều tỷ lệ học sinh không di cư, cho thấy con em gia đình di cư không đủ điều kiện tham gia học tập ở các cơ sở giáo dục công lập và phải học ở các trường ngoài công lập.  

Việc phải nhập học các trường ngoài công lập với học phí cao hơn phần nào làm cho chi tiêu cho giáo dục của hộ có người di cư cao hơn hộ không di cư (Hình 5). Hình 24 cho thấy khoảng cách trong chi tiêu cho giáo dục trung bình của hộ gia đình theo tình trạng di cư. Chi tiêu cho giáo dục chiếm phần đáng kể trong tổng chi tiêu dùng của người di cư, và lớn hơn tỷ lệ chi cho giáo dục của gia đình không di cư. Năm 2016, chi giáo dục của hộ có người di cư chiếm khoảng 21,5% chi tiêu dùng của hộ, gấp đôi tỷ lệ 9,2% của hộ không di cư. Khoảng cách chi tiêu cho giáo dục của hai nhóm hộ những năm trước đó thậm chí còn lớn hơn. Nguyên nhân hộ gia đình có người di cư hoặc hộ di cư chi tiêu nhiều cho giáo dục có thể là do chú trọng vào mục đích đi học. Ngoài ra, do nhiều gia đình di cư không có hộ khẩu thường trú nên hoặc phải cho con học tại các trường ngoài công lập với học phí cao hơn trường công lập, hoặc phải chi phí không chính thức để con em có thể được học tại trường công lập nên chi tiêu cho giáo dục chiếm phần đáng kể trong tổng chi tiêu dùng của gia đình có người di cư. Nếu bao gồm cả các hộ di cư không đăng ký thì khoảng cách trên còn lớn hơn nhiều.

Hình 5. Tỷ lệ chi tiêu cho giáo dục bình quân trong tổng chi tiêu của hộ theo tình trạng di cư (%)[1]

Nguồn: Tính toán của nhóm nghiên cứu dựa trên số liệu VHLSS nhiều năm

----------------------

Tài liệu tham khảo

Nhóm Ngân hàng Thế giới. (2016). Hệ thống đăng ký hộ khẩu ở Việt Nam. Hà Nội: World Bank Group, VASS.

UNICEF. (2016). Báo cáo Trẻ em ngoài nhà trường: Nghiên cứu của Việt Nam. UNICEF.

 


[1] Xem footnote 2.

 


[1] Dựa theo bảng hỏi VHLSS, nhóm nghiên cứu định nghĩa người di cư là những người có tổng thời gian cư trú trong hộ trong vòng 12 tháng qua ít hơn 6 tháng.

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: TS. Phạm Thị Thu Trang (Ban Tổng hợp)
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202