Tin Kinh tế- xã hội  > Doanh nghiệp

Cơ hội và thách thức của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong tiếp cận tín dụng

Cập nhật lúc: 27/12/2018 03:00:00 PM

Hỗ trợ từ chính sách

Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ sự phát triển của DN, đặc biệt về tiếp cận tín dụng cho doanh nghiệp thông qua việc phát triển thị trường tín dụng dành cho DNNVV bằng cách đa dạng hóa nhà cung cấp, nâng cao năng lực cho vay và hình thành nên các sản phẩm mới.

Năm 2001, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 193/2001/QĐ-TTg trong đó quy định Quy chế thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho các DNNVV. Tiếp đó là Nghị định số 58/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Năm 2009, trong Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, thì trợ giúp tài chính là một trong những ưu tiên hỗ trợ đầu tiên của Nhà nước. Theo đó, Nhà nước khuyến khích thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa. Cùng với việc thực hiện các giải pháp tái cơ cấu các tổ chức tín dụng theo Đề án Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng theo Quyết định số 254/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và xử lý nợ xấu theo Đề án xử lý nợ xấu của hệ thông các tổ chức tín dụng ban hành kèm Quyết định số 843/2013/QĐ-TTg, năng lực cho vay và hoạt động của các tổ chức tín dụng đã ngày càng được đẩy mạnh.

Việc hỗ trợ tiếp cận tín dụng là nội dung đầu tiên được quy định trong Luật Hỗ trợ DNNVV năm 2017. Theo đó, trong từng thời kỳ, Chính phủ quyết định chính sách hỗ trợ tổ chức tín dụng tăng dư nợ cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa; khuyến khích tổ chức tín cho DNNVV vay dựa trên xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp và các biện pháp phù hợp khác. DNNVV được hỗ trợ xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh khả thi, tăng cường năng lực quản trị, kỹ năng quản lý, minh bạch hóa tài chính của doanh nghiệp để nâng cao khả năng tiếp cận doanh nghiệp và được cấp bảo lãnh tính dụng tại Quỹ bảo lãnh tín dụng DNNVV. Như vậy, việc hỗ trợ tiếp cận tín dụng cho DNNVV trở thành một trong những nhiệm vụ quan trọng trong khuyến khích phát triển doanh nghiệp tư nhân. 

Đa dạng kênh tài chính

Các tổ chức tài chính tín dụng ngày càng mở rộng năng lực tài chính và tạo ra nhiều hơn các kênh cung cấp tín dụng mới và phù hợp hơn cho các DNNVV. Các tổ chức tài chính vi mô và các quỹ tín dụng nhân dân đã có thể vươn đến nhóm khách hàng là các doanh nghiệp siêu nhỏ hay doanh nghiệp hộ gia đình. Các sản phẩm tín dụng thủ tục ngày càng đơn giản, thời hạn giải ngân nhanh. Bên cạnh đó, các dịch vụ tư vấn thiết lập kế hoạch/phương án sản xuất kinh doanh, quản lý tài chính kết hợp với các sản phẩm ngân hàng ngày càng hỗ trợ tốt hơn trong việc vay vốn của DNNVV. Các Quỹ bảo lãnh tín dụng DNNVV được thành lập cũng tạo ra nguồn vốn quan trọng tại địa phương. Các DNNVV cũng được tiếp cận nhiều hơn đến các hoạt động tư vấn/hỗ trợ kiến thức về vay vốn.

…Vẫn còn nhiều hạn chế

Như vậy, DNNVV đã và đang có nhiều khả năng hơn trong việc tiếp cận các nguồn vốn khác nhau nhằm hỗ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy vậy, trên thực tế, DNNVV vẫn gặp rất nhiều khó khăn khi vay vốn. Kết quả các cuộc điều tra DNNVV trong những năm gần đây cho thấy các DN loại hình này gặp  khó khăn về vốn từ khi thành lập cho đến khi vào hoạt động. Khó khăn về vốn của DN có thể xem xét từ khả năng tiếp cận tín dụng cho đến việc đáp ứng được các yêu cầu vay vốn, số vốn được vay và thời hạn vay.

Trong báo cáo Môi trường kinh doanh của CIEM năm 2015, tỷ lệ tiếp cận tín dụng trên số doanh nghiệp tham gia điều tra lại có xu hướng giảm từ năm 2011 trở lại đây. Tỷ lệ doanh nghiệp tiếp cận tín dụng năm 2011 chỉ đạt 29,4%, trong đó đến hơn 62% doanh nghiệp vừa có tiếp cận tín dụng, tỷ lệ cao nhất, thấp nhất là DN siêu nhỏ, tỷ lệ tiếp cận tín dụng là 21,7%. Tỷ lệ này giảm đều trên tất cả các quy mô trong năm 2015, tỷ lệ tiếp cận tín dụng chung chỉ còn 24,6% trong khi DN vừa chỉ là 58%, doanh nghiệp siêu nhỏ chỉ còn 17,3%. DN nhỏ cũng giảm từ 42,6% xuống còn 38,9%.

Theo VCCI, DNNVV có khoản vay từ ngân hàng thấp hơn đáng kể so với các doanh nghiệp quy mô lớn. Theo báo cáo PCCI 2016, tỷ lệ doanh nghiệp lớn có khoản vay ngân hàng lên tới 81%, trong khi đó DN siêu nhỏ chỉ có 40%, DN nhỏ và vừa từ 62-74%. Nếu xem xét đến các khoản vay trung và dài hạn, giai đoạn 2010-2015 cho khả năng tiếp cận tín dụng của DNNVV không có sự cải thiện, mà có xu hướng giảm đi.

Hai minh chứng từ các cuộc điều tra đều cho thấy khả năng tiếp cận vốn vay từ ngân hàng của các DNNVV ngày càng khó khăn hơn, chưa kể thời hạn vay ngày càng giảm xuống. Thời hạn khoản vay của DNNVV trung vị năm 2015 ở 6-8 tháng, ngắn chỉ còn một nửa so với năm 2011, và thấp hơn so với doanh nghiệp ở quy mô lớn. Tỷ lệ DNN có được khoản vay trung và dài hạn (trên 12 tháng) chỉ đạt 20%, tỷ lệ ngày có tăng lên từ năm 2013 trở lại đây nhưng vẫn thấp so với mức 23% của năm 2010. DNV mặc dù đạt được 24% doanh nghiệp có thể tiếp cận các khoản vay trung và dài hạn nhưng tỷ lệ này cũng giảm xuống từ mức 29% năm 2010.

Trong khi đó, DN siêu nhỏ phải đối mặt với chi phí vay đắt đỏ hơn khi lãi suất vay trung vị năm 2015 là 9%, các loại hình DN còn lại là 8%. Khi các khoản vay từ ngân hàng ngày càng khó khăn, các DNNVV phải chấp nhận vay vốn từ các nguồn khác và chấp nhận mức lãi suất cao hơn lãi suất ngân hàng.

Nguyên nhân từ nhiều phía

Từ phía Doanh nghiệp: Điều kiện vay vốn không đáp ứng được, 90% DN tham gia điều tra đều nhận định rằng rất khó có thể tiếp cận tín dụng ngân hàng nếu không có tài sản thế chấp. Các hình thức đảm bảo khoản vay bằng hàng hóa hay các tài sản khác bất động sản chỉ mới được áp dụng với các khoản vay ngắn hạn, trong khi đó, hầu hết các khoản vay dài hạn đều yêu cầu tài sản thế chấp là bất động sản. Thiếu tài sản thế chấp đã trở thành bài toán khó của các DNNVV khi tiếp cận các nguồn tín dụng chính thống. Tài sản đảm bảo chủ yếu yêu cầu phải là bất động sản, trong khi đó, giá trị bất động sản của các DNNVV thường rất nhỏ, không đáp ứng được yêu cầu của ngân hàng.

Từ phía Ngân hàng: Thủ tục vay vốn phức tạp trở thành rào cản cơ bản cho tín dụng tiếp cận DN. Quá trình xin vay vốn đòi hỏi nhiều văn bản giấy tờ; thủ tục công chứng gây mất thời gian và chi phí; các yêu cầu xây dựng phương án/dự án sản xuất kinh doanh và chứng minh hiệu quả của phương án/dự án vượt quá khả năng của nhiều DNNVV. Chưa kể đến DNNVV cũng gặp nhiều khó khăn hơn so với các DN quy mô lớn khi phải đối mặt với các chi phí “không chính thức” trong tiếp cận các dịch vụ vay vốn của ngân hàng. Có trên 65% DNNVV đánh giá các điều kiện vay vốn của doanh nghiệp tư nhân khó khăn so với DNNN trong khi tỷ lệ này chỉ là 48% đối với các doanh nghiệp lớn. Trong khi chỉ có 32% DN lớn cho rằng thủ tục vay vốn phức tạp thì đối với DN siêu nhỏ là 59%. Chưa kể đến quy mô vốn vay và thời hạn khoản vay chưa thỏa mãn được nhu cầu của doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp phải chấp nhận vay với số vốn thấp hơn và thời hạn ngắn hơn thực tế đòi hỏi của dự án kinh doanh.

Từ phía thị trường tín dụng: các sản phẩm tín dụng dành cho DNNVV chưa phong phú, một số doanh nghiệp không tìm được các sản phẩm tín dụng phù hợp, do đó cũng không tiếp cận được vốn vay ngân hàng. Trong một vài năm trở lại đây, các TCTD (đặc biệt là nhóm các NHTM cổ phần) đã có sự chủ động mở rộng tiếp cận đối tượng khách hàng là nhóm DNNVV. Một số sản phẩm tín dụng chuyên biệt dành cho đối tượng khách hàng là DNNVV đã được các ngân hàng đưa ra nhằm đáp ứng các nhu cầu vốn khác nhau. Các ngân hàng cũng đã cố gắng đa dạng hóa các hình thức tài sản đảm bảo như chấp nhận tài sản đảm bảo là hàng hóa, các khoản phải thu hoặc cho vay tín chấp (không có tài sản đảm bảo) trong một số sản phẩm nhất định. Tuy nhiên, về cơ bản các sản phẩm tín dụng dành cho khối DNNVV vẫn phải được xây dựng trên nền tảng của Quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng được ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN (Quy chế 1627) được áp dụng chung đối với DNNVV cũng như doanh nghiệp có quy mô lớn, từ đó, có những bất lợi nhất định đối với DNNVV. Mặc dù các doanh nghiệp lớn có khả năng huy động vốn từ nhiều nguồn phong phú hơn như phát hành cổ phiếu và trái phiếu, song nguồn vốn huy động từ thị trường chứng khoán chưa nhiều, tỷ trọng lớn vốn ngân hàng vẫn được dành cho các doanh nghiệp lớn. Thực tế cho thấy có sự phân biệt đối xử khi các doanh nghiệp lớn thường được các tổ chức tín dụng ưu tiên vay vốn hơn các DNNVV do những doanh nghiệp lớn có ưu thế hơn về tài sản, có mối quan hệ tốt hơn với các TCTD. Các doanh nghiệp nhà nước cũng có lợi thế hơn khi tiếp cận tín dụng từ các tổ chức tín dụng so với các DN tư nhân bên cạnh lý do tài sản đảm bảo lớn còn có tâm lý các TCTD coi cho vay các DNNN là an toàn vì những doanh nghiệp này được Nhà nước bảo lãnh.

Nhiều khó khăn trong việc cho vay tín dụng dẫn đến việc doanh nghiệp lựa chọn không vay vốn, chuyển sang các nguồn huy động vốn khác hoặc là có tâm lý ít nhất đảm bảo nguồn vốn tự có trong một điều kiện nhất định mới đăng ký dinh doanh. Kết quả điều tra DNNVV trong báo cáo Môi trường kinh doanh của CIEM cho thấy một khía cạnh khác về việc tiếp cận tín dụng của DNNVV khi đến hơn 50% DNNVV tham gia điều tra cho rằng DN không có nhu cầu vay vốn, vốn đầu tư quy mô nhỏ có thể khắc phục được bằng các nguồn vốn tự có hoặc các nguồn cho vay khác không phiền hà về thủ tục cho vay. Khi bản thân DN khẳng định rằng họ thiếu vốn sản xuất nhưng lại không có nhu cầu vay vốn là một nghịch lý cho thấy DNNVV gặp nhiều khó khăn tiếp cận tín dụng chính thức về cả khách quan và chủ quan./.

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Minh Hà (Ban Phân tích và dự báo)
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202