Tin Kinh tế- xã hội  > Doanh nghiệp

Hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2011 – 2016

Cập nhật lúc: 25/12/2018 11:00:00 AM

Trong cả giai đoạn 2011 – 2016, nền kinh tế Việt Nam bước vào giai đoạn phục hồi, tăng trưởng kinh tế cao trở lại. Trong bối cảnh đó, tình hình hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam đã có nhiều khởi sắc, khả năng sinh lời tăng, năng lực cạnh tranh có nhiều cải thiện. Tuy nhiên, đang chênh lệch ngày càng tăng về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước, giữa các doanh nghiệp quy mô lớn và doanh nghiệp nhỏ và vừa, và giữa các ngành.

Biểu 1. ROA và ROE bình quân của các doanh nghiệp Việt Nam

Đơn vị: phần trăm, %

Nguồn: Tính toán dựa trên số liệu Điều tra doanh nghiệp giai đoạn 2011 – 2016 của Tổng cục Thống kê

Xem xét các chỉ số đo lường khả năng sinh lời của doanh nghiệp có thể thấy, nhìn chung ROA[1] bình quân của các doanh nghiệp Việt Nam có xu hướng tăng từ mức 2,16% vào năm 2011 lên mức 2,84% vào năm 2016. Điều đó cho thấy hiệu quả sử dụng tài sản của các doanh nghiệp Việt Nam đang được cải thiện trong thời gian qua, tuy nhiên chỉ số này còn ở mức thấp (thông thường một doanh nghiệp, trừ ngành ngân hàng - chứng khoán - bảo hiểm, có ROA>=7,5 mới được đánh giá là doanh nghiệp tốt). Còn chỉ số ROE[2] bình quân lại có sự biến động, tăng từ mức 6,53% vào năm 2011 lên mức 7,01% vào năm 2014 và giảm xuống mức 5,68% vào năm 2016. Chỉ tiêu này có xu hướng giảm từ năm 2014 trở lại đây cho thấy hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp có chiều hướng đi xuống, và ở mức thấp so với chuẩn quốc tế (thông thường doanh nghiệp có ROE>=15% mới được đánh giá là doanh nghiệp tốt).

Nguồn: Tính toán dựa trên số liệu Điều tra doanh nghiệp giai đoạn 2011 – 2016 của Tổng cục Thống kê

Xét theo loại hình sở hữu, các doanh nghiệp trong nước có khả năng sinh lời (ROA, ROE) thấp hơn so với các doanh nghiệp FDI. Các doanh nghiệp FDI có sự cải thiện mạnh mẽ về khả năng sinh lời trong cả giai đoạn (năm 2016 các doanh nghiệp FDI có ROA đạt 7,08% và ROE đạt 16,14%). Trong khi đó, các doanh nghiệp trong nước chỉ có sự cải thiện nhẹ về chỉ số ROA (ROA của DNNN tăng từ 2,65% lên 3,49% còn ROA của DN NNN tăng từ 1,11% lên 1,41%). Các doanh nghiệp nhà nước có xuất phát điểm về ROE cao hơn so với các doanh nghiệp FDI ở năm 2011, tuy nhiên ROE của DNNN càng ngày càng giảm và tụt hậu so với các DN FDI; xu hướng tương tự cũng diễn ra ở các doanh nghiệp ngoài nhà nước. Sự chênh lệch ngày càng tăng về khả năng sinh lời cho thấy năng lực cạnh tranh[1] của các doanh nghiệp trong nước còn ở mức thấp và đang có dấu hiệu bị tụt hậu so với các doanh nghiệp FDI năng động và hiệu quả.

Xét theo quy mô, các doanh nghiệp có quy mô lớn hơn nhìn chung có khả năng sinh lời cao hơn so với các doanh nghiệp quy mô nhỏ hơn, kết quả này tương đồng với Liargovas và Skandalis (2010)[2]. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp quy mô lớn hơn nhìn chung cũng có sự cải thiện về khả năng sinh lời nhanh hơn so với các doanh nghiệp quy mô nhỏ hơn. Kết quả này cùng với thông tin về tỷ lệ doanh nghiệp thua lỗ cho thấy các doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ và nhỏ có năng lực cạnh tranh khá hạn chế, gặp nhiều khó khăn hơn và rủi ro phá sản cao hơn đáng kể so với các doanh nghiệp quy mô vừa và lớn.

Bảng: ROA bình quân của các ngành cấp 1 của doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2011 – 2016

Đơn vị: phần trăm, %

Nguồn: Tính toán dựa trên số liệu Điều tra doanh nghiệp giai đoạn 2011 – 2016 của Tổng cục Thống kê

 

Xét theo ngành, những ngành có ROA cao nhất so với mức bình quân chung là công nghiệp chế biến chế tạo; nghệ thuật vui chơi và giải trí, thông tin và truyền thông; giáo dục và đào tạo. Những ngành có ROE cao nhất so với mức bình quân chung là ngành nghệ thuật, vui chơi và giải trí; công nghiệp chế biến chế tạo; thông tin và truyền thông; vận tải kho bãi. Một số ngành có khả năng sinh lời thấp nhất so với mức bình quân chung (cả ROA và ROE đều thấp) như hoạt động dịch vụ khác; hoạt động chuyên môn khoa học và công nghệ, xây dựng. Ngành giáo dục và đào tạo; y tế là những ngành có sự cải thiện ROA, ROE tốt nhất trong giai đoạn 2011 - 2016, cho thấy xu hướng độc lập, tự chủ về tài chính trong 2 ngành này đã mang lại kết quả khá tích cực, nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong ngành.

Tóm lại, có thể thấy nhìn chung hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đã có sự cải thiện đáng kể trong giai đoạn 2011 – 2016. Tuy nhiên, xét theo loại hình sở hữu, khu vực doanh nghiệp trong nước có sự cải thiện chậm hơn so với các doanh nghiệp FDI, và có nguy cơ tụt hậu xa hơn. Xét theo quy mô, các doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ và nhỏ có năng lực cạnh tranh khá hạn chế, gặp nhiều khó khăn hơn và rủi ro phá sản cao hơn đáng kể so với các doanh nghiệp quy mô vừa và lớn. Xét theo ngành, một số ngành có khả năng sinh lời cao nhất là công nghiệp chế biến chế tạo; nghệ thuật vui chơi và giải trí, thông tin và truyền thông; đây cũng là những ngành mà khu vực FDI đang chiếm ưu thế. Trong bối cảnh đó, Chính phủ cần phải có chính sách hỗ trợ, cải thiện hiệu quả và nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp nhỏ và vừa; để khối doanh nghiệp này bắt kịp được với khối doanh nghiệp FDI./.

 

 


[1] Khả năng sinh lời là một trong những chỉ số đại diện cho năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, bên cạnh năng suất và thị phần (Depperu và Cerrato, 2005).

[2] Theo Liargovas và Skandalis (2010), quy mô doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng vì nó ảnh hưởng đến sức mạnh cạnh tranh của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp nhỏ có ít quyền lực hơn các doanh nghiệp lớn; do đó họ có thể thấy khó cạnh tranh với các công ty lớn, đặc biệt là trong các thị trường cạnh tranh cao. Có ý kiến cho rằng công ty càng nhỏ thì càng dễ biến động và gặp nhiều rủi ro đầu tư.

 


[1] Tỷ số lợi nhuận trên tài sản (ROA): là một tỷ số tài chính dùng để đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của doanh nghiệp. Tỷ số này càng cao thể hiện sự sắp xếp, phân bổ và quản lý tài sản càng hợp lý và hiệu quả.

[2] Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE): tỷ số tài chính để đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp. Tỷ số này càng cao, các nhà quản trị càng có lợi thế trong việc đi huy động vốn trên thị trường tài chính để hỗ trợ đầu tư vào các kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Nguyễn Việt Dũng (Ban TTDN và TT)
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202