Tin Kinh tế- xã hội  > Tài chính ngân hàng

Dự báo kinh tế thế giới trước xu hướng thắt chặt chính sách tiền tệ và triển vọng các nền kinh tế

Cập nhật lúc: 26/12/2018 11:00:00 AM

Báo cáo mới nhất của ngân hàng Goldman Sachs (Mỹ) cho thấy lần đầu tiên kể từ năm 2010, trong năm 2017, nền kinh tế thế giới đã tăng trưởng vượt trội hơn so với hầu hết các dự đoán, và giới chuyên gia kỳ vọng đà tăng này sẽ tiếp diễn trong năm 2018.

Sau nhiều năm mở rộng chính sách tiền tệ đạt được các bước tăng trưởng nhất định. Nhiều nên kinh tế lớn của thế giới đã triển khai các kế hoạch mới nhằm thắt chặt hệ thống tài chính tiền tệ, giảm lạm phát và rủi ro cho thị trường tài chính.

Đối với Mỹ, Từ giữa tháng 12/2017 đến này, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed, Ngân hàng trung ương) đã thông báo quyết định nâng lãi suất cơ bản thêm 3 lần, mỗi lần tăng với biên độ 0.25 điểm phần trăm đưa lãi suất của Mỹ từ khoảng 1,25% lên 2,25%, sau khi các điều kiện thị trường lao động và lạm phát diễn biến theo như kỳ vọng và thậm trí một số thời điểm, các chỉ số của nền kinh tế còn tiến triển tốt hơn mức mà chính phủ Mỹ đề ra. Tới thời điểm tháng 12/2018, Fed đã  tăng lãi suất tới 6 lần trong vòng 2 năm (kể từ thời điểm nhậm chức của tổng thống Obama, cho thấy mức độ tự tin của cơ quan này đối với nền kinh tế Mỹ. Dự kiến sẽ có thêm ba đợt tăng lãi suất nữa trong năm 2019.

Bên cạnh việc tăng lãi suất  nền kinh tế lớn nhất thế giới, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) trong năm 2018 cũng được đã thắt chặt chính sách nới lỏng định lượng (QE) - vốn là biện pháp bơm thêm tiền vào thị trường bằng việc mua trái phiếu. Kết hợp với mức lãi suất thấp và khoản tín dụng ưu đãi dành cho các ngân hàng, chương trình mua trái phiếu này nhằm khuyến khích chi tiêu và đầu tư, qua đó hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. ECB cũng đã ra thu hẹp quy mô chương trình mua trái phiếu xuống 30 tỷ Euro (36 tỷ USD)/tháng kể từ tháng 1/2018, giữa bối cảnh kinh tế Eurozone phục hồi mạnh mẽ hơn. Đây sẽ là bước đi đầu tiên hướng tới việc bình thường hóa lãi suất tại khu vực đồng Euro. Một nguy cơ khác là việc chính phủ các nước và giới nghiên cứu chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế về tác động của việc cắt hoặc giảm bớt những gói kích thích tài chính đối với thị trường, do kinh tế thế giới chưa bao giờ triển khai các gói QE với quy mô lớn như vừa qua.

Chính vì vậy, Fed đang nỗ lực tìm cách giảm thiểu những tác động từ việc thu hẹp bản cân đối kế toán 4.500 tỷ USD bằng cách để trái phiếu đáo hạn, một quy trình bình thường hóa nhằm tránh gây đảo lộn cho các thị trường, thay vì bán tài sản. Fed sẽ giảm dần lượng tài sản nắm giữ cho đến khi tốc độ giảm đạt đến 50 tỷ USD/tháng.

ECB và Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) trong năm 2018 được cho là đã đi theo xu hướng của Fed, tức là xác định chính xác sẽ cắt giảm bao nhiêu lượng tiền bơm vào thị trường trong khoảng thời gian bao lâu. Goldman Sachs dự báo chương tình mua tài sản của ECB sẽ tiếp tục đến cuối năm 2018, trong khi sẽ không đợt tăng lãi suất nào tới cuối năm 2019.BoJ cũng sẽ duy trì chính sách kiểm soát đường cong lãi suất, tuy nhiên sẽ tiến hành cắt giảm lượng phát hành của hầu hết các loại trái phiếu với nhiều kỳ hạn khác nhau trong tài khóa 2018. Việc thắt chặt nguồn cung trái phiếu sẽ làm giảm lãi suất, tiếp tục giúp BoJ cắt giảm chương trình thu mua trái phiếu.

Triển vọng của các nền kinh tế

Bất chấp những rủi ro từ việc thắt chặt chính sách tiền tệ của nhiều ngân hàng trung ương, với điều kiện tài chính thuận lợi và một số hỗ trợ từ chính sách tài khóa, triển vọng kinh tế toàn cầu khá tươi sáng và đồng đều giữa các nền kinh tế phát triển và mới nổi cuối năm 2018 đầu năm 2019. Kinh tế Mỹ đang ở giai đoạn an toàn và có nhiều chỉ số tích cực như việc làm, giá nhà ở, lạm phát và lợi nhuận từ đầu tư kinh doanh đều tăng. Tuy nhiên, tiền lương trung bình tại Mỹ vẫn chưa tăng mặc dù tỷ lệ thất nghiệp đã giảm xuống mức thấp nhất từ năm 2001. Theo IMF Trong năm 2018, GDP của Mỹ ước sẽ tăng trưởng khoảng 2,5% và 2,2% năm 2019.

Nền kinh tế khu vực Eurozone nhiều khả năng tiếp tục duy trì đà phục hồi với mức tăng trưởng ước tính là 2,2%, mặc dù nguy cơ chính trị vẫn còn, trong khi đó, kinh tế Nhật Bản sẽ tăng trưởng vào khoảng 1,6% khi kết thúc năm 2018. Những thách thức chính của kinh tế Nhật Bản là lực lượng lao động suy giảm, tỷ lệ phụ thuộc của người cao tuổi tăng lên, trong khi chính sách thắt chặt nhập cư vẫn không được nới lỏng. Lạm phát vẫn duy trì trong khoảng mục tiêu của BoJ đặt ra là 2%.

Vương quốc Anh là nền kinh tế phát triển duy nhất “đi lùi” so với xu hướng khi chỉ tăng 1,3% vào năm 2018, thấp hơn mức ước tính 1,5% của năm 2017, do lạm phát cao hơn sẽ ảnh hưởng đến mức tăng thu nhập thực tế và hoạt động tiêu dùng. Trong khi đó, triển vọng của các nền kinh tế mới nổi trong năm tới là khá tích cực. Ấn Độ và Nga đều sẽ tăng trưởng trở lại sau giai đoạn suy thoái kéo dài, với Xứ sở Càri ước sẽ đạt mức tăng trưởng 8% trong năm tài chính 2018, còn kinh tế Nga tăng trưởng 3,3% vào năm tới. Brazil cũng được dự báo sẽ tiếp tục hồi phục với mức tăng ước khoảng 2,7% vào năm 2018. Trái ngược với các nền kinh tế trên, Trung Quốc sẽ chứng kiến quá trình tăng trường “giảm tốc” dần trong năm tới trong do những ảnh hưởng tiêu cực từ chiến tranh thương mại. Goldman Sachs cho rằng những cải cách hiện hành, trong đó có các biện pháp hạn chế rủi ro tài chính và cải thiện tình hình môi trường, sẽ hạn chế đà đi lên của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Do vậy, nhịp độ tăng trưởng của Trung Quốc sẽ chậm lại từ mức ước tính xuống 6,5% vào năm 2018 và còn 6,1% vào năm 2019.

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Tạ Hoàng Anh (Ban Kinh tế thế giới)
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Số lượt truy cập : 1097202