Tin Kinh tế- xã hội  > Kinh tế vĩ mô

Xu hướng và triển vọng thị trường tài chính, tiền tệ toàn cầu đến năm 2025

Cập nhật lúc: 28/12/2018 08:00:00 AM

Những chính sách mới của Tổng thống Mỹ Donald Trump, như luật cải cách thuế và chiến tranh thương mại giữa Mỹ với các đối tác sẽ gây ra những rủi ro lớn cho thị trường tài chính Mỹ và thị trường tài chính toàn cầu. Bên cạnh đó, những xu hướng công nghệ mới của cuộc CMCN 4.0 cũng làm thay đổi đáng kể cơ cấu, phương thức hoạt động và quản lý đối với thị trường tài chính toàn cầu.

Những thay đổi của hệ thống tài chính toàn cầu do CMCN 4.0

Cuộc CMCN 4.0 có ảnh hưởng sâu sắc tới mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội và hệ thống tài chính toàn cầu cũng không ngoại lệ. Những ảnh hưởng lớn nhất sẽ diễn ra đối với phương thức giao dịch, sản phẩm và hệ thống phân phối, hệ thống tổ chức quản lý và lao động trong lĩnh vực tài chính ngân hàng.

Thứ nhất, ảnh hưởng của đồng tiền ảo Bitcoin. Sự phát triển của Bitcoin cũng như các tiền điện tử khác không phải do ngân hàng Trung ương phát hành sẽ buộc ngân hàng Trung ương các nước phải thay đổi cách thức điều hành chính sách tiền tệ để thích ứng do khả năng ảnh hưởng tới các chỉ số tiền tệ trong mục tiêu ổn định giá cả. Ngân hàng Trung ương cũng phải đối mặt với rủi ro bị rơi vào tình trạng giống đô la hóa vì bitcoin có thể khiến cho việc giao dịch ngoại hối trở nên hết sức dễ dàng. Những dịch vụ như PayPal hoặc e-gold làm cho người dân của một quốc gia dễ dàng quy đổi tiền của mình sang một loại ngoại tệ mạnh hơn. Sự phát triển của bitcoin cũng có thể có những tác động tới hệ số tạo tiền đẩy nhanh tốc độ lưu thông tiền mặt trong nền kinh tế nếu được sử dụng rộng rãi.

Thứ hai, CMCN 4.0 sẽ làm thay đổi hoàn toàn kênh phân phối và các sản phẩm dịch vụ ngân hàng truyền thống và trải nghiệm khách hàng đang dần trở thành xu hướng vượt trội.

Thứ ba, việc áp dụng các nguyên tắc của CMCN 4.0, các vấn đề như giao diện lập trình ứng dụng (API), phân phối liền mạch hay phân tích thông minh sẽ là những ứng dụng phổ biến trong hoạt động phát triển sản phẩm, đặc biệt là các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao của các ngân hàng. Trong đó, dữ liệu lớn (Big Data) và phân tích hành vi khách hàng sẽ là xu hướng tương lai cho thời đại công nghệ số khi có thể thu thập dữ liệu bên trong và bên ngoài thông qua tổ chức phân tích hành vi khách hàng nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, mang lại giá trị gia tăng, tiết giảm chi phí và hỗ trợ cho các quá trình ra quyết định (Jan Smit, Stephan Kreutzer, Carolin Moeller & Malin Carlberg 2016).

Thứ tư, CMCN 4.0 sẽ tạo ra sự cạnh tranh lớn trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, ngân hàng, dịch vụ thanh toán trong bối cảnh các doanh nghiệp công nghệ tài chính - FinTech đang ngày càng mở rộng và phát triển.

Thứ năm, thị trường lao động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng cũng sẽ có sự thay đổi, do việc ứng dụng những thành tựu của cuộc CMCN 4.0 có thể khiến số lượng nhân viên của các ngân hàng, tổ chức tài chính, công ty chứng khoán sụt giảm một cách đáng kể (đặc biệt là với các bộ phận kỹ sư tin học, giao dịch chi nhánh…). Mặc dù vậy, nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ gia tăng (có cả chuyên môn nghiệp vụ về tài chính, ngân hàng và công nghệ thông tin). Lao động tại các nền kinh tế đang phát triển trong đó có Việt Nam, khi đó, khó có thể duy trì lợi thế cạnh tranh trong nghề này khi robot còn có thể làm tốt hơn thế với mức chi phí rẻ hơn.

Chính sách tài chính, tiền tệ của các nền kinh tế lớn

Tại Mỹ, sau một thập kỷ duy trì chính sách tiền tệ cực kỳ nới lỏng, FED đã bắt đầu nâng dần lãi suất từ cuối năm 2016 và dự kiến sẽ tiếp tục tăng lãi suất cho tới hết năm 2019 như khi nền kinh tế được cải thiện, thất nghiệp giảm và lạm phát tăng cao hơn. Tính đến tháng 9/2018, Mỹ đã nâng lãi suất 3 lần trong năm 2018 và lãi suất hiện ở mức 2-2,25%. Các quan chức về tiền tệ của Mỹ dự kiến lãi suất của FED sẽ ở mức khoảng 3,5% vào cuối năm 2019. Điều này ngụ ý rằng chính sách tiền tệ sẽ thắt chặt hơn trong hai năm tới. FED cũng dự kiến các biện pháp kích thích tài khóa gần đây từ luật cải cách thuế mới sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong hai năm, nhưng sẽ không hỗ trợ dài hạn cho nền kinh tế. Tuy nhiên, chính sách tiền tệ của Mỹ nhiều khả năng sẽ được nới lỏng hơn từ năm 2020 do kinh tế Mỹ được dự báo sẽ rơi vào suy thoái nhẹ từ năm 2020, sau khi chính sách kích thích tài khóa hết dần tác động.

Tại châu ÂuNhật Bản, lãi suất đã được duy trì ở mức siêu nới lỏng trong suốt hơn hai năm qua. Khu vực Eurozone đã duy trì lãi suất 0% từ tháng 3/2016 và Nhật Bản ở mức -0,1% từ tháng 1/2016 nhằm kích thích kinh tế. Với mục tiêu đạt lạm phát ở mức 2% vào năm 2020, ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) vẫn quyết định tiếp tục duy trì chính sách kích thích tiền tệ. Sau một thời gian thực hiện chính sách tiền tệ siêu nới lỏng để kích thích kinh tế sau khủng hoảng, nân hàng Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) dự kiến sẽ kết thúc chương trình mua tài sản vào cuối năm nay và dự kiến tăng lãi suất từ giữa năm 2019. Các chuyên gia dự báo ECB sẽ có hai lần nâng lãi suất vào năm 2019. Tuy nhiên, ECB cũng sẽ cam kết mở rộng chương trình mua trái phiếu cả về quy mô và thời gian nếu nền kinh tế suy thoái. 

Sau Đại hội XIX của Đảng Cộng sản Trung Quốc, định hướng chính sách tài khóa của Trung Quốc về cơ bản không thay đổi so với Đại hội XVIII. Theo đó, Trung Quốc tiếp tục điều hành chính sách tài khóa theo hướng thực hiện mục tiêu hướng tới việc phân phối lại của cải của xã hội, tạo thêm nhiều việc làm cũng như cải thiện hệ thống an sinh xã hội. Trong giai đoạn 2018 – 2022, chính sách tài khóa sẽ gia tăng vào đầu tư các dịch vụ công ở khu vực nông thôn. Bên cạnh đó, để ứng phó với tác động tiêu cực của chiến tranh thương mại,Trung Quốc cũng đã công bố kế hoạch nới lỏng tài khóa bằng cách giảm thuế (thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp) hơn 1.100 tỷ NDT (160 tỷ USD) và phát hành lượng trái phiếu chính phủ đặc biệt trị giá 1.350 tỷ NDT dành cho phát triển cơ sở hạ tầng.

Về chính sách tiền tệ, cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung leo thang đã khiến cho Trung Quốc phải thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng nhằm kích thích kinh tế. Ngày 23/7/2018, ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBoC) đã bơm vào thị trường 502 tỷ Nhân dân tệ, tương đương 74 tỷ USD; Trong dài hạn, PBoC sẽ đưa ra các chính sách “dài hơi” hơn, linh hoạt và hiệu quả, duy trì sự kiểm soát hợp lý đối với các “van” cung tiền tệ và đảm báo tính thanh khoản ở mức hợp lý và dồi dào. Trong một diễn biến khác, tiến trình quốc tế hóa đồng NDT của Trung Quốc trong thời gian qua đã có tiến triển và triển vọng trong tương lai là khá hứa hẹn. Phát biểu tại một diễn đàn tài chính ở Thượng Hải (Trung Quốc), ông Chu Tiểu Xuyên cho rằng việc Mỹ thực hiện các biện pháp trừng phạt tài chính đối với một vài quốc gia đã tác động phần nào tới việc sử dụng đồng USD trên các thị trường thế giới như một đồng tiền dự trữ quốc tế và một phương tiện thanh toán quốc tế. Cụ thể về tiến trình quốc tế hóa đồng NDT, Trung Quốc xác định cần một chu kỳ dài 30 năm kể từ năm 2011 mới có thể bước đầu thực hiện quốc tế hóa NDT. Trong khoảng thời gian 30 năm sắp tới, TQ sẽ thực hiện hai quá trình “ba bước”: “láng giềng hóa - khu vực hóa - quốc tế hóa” và “thanh toán hóa - đầu tư hóa - dự trữ hóa”. “Trong tiến trình thứ nhất, xác định mục tiêu về phạm vi sử dụng đồng nhân dân tệ, bao gồm: trong 10 năm đầu tiên thực hiện “láng giềng hóa”, tức là hoàn thành việc sử dụng đồng NDT tại các quốc gia và khu vực láng giềng; 10 năm thứ hai là “khu vực hóa”, biến đồng NDT trở thành đồng tiền mang tính khu vực của toàn bộ khu vực châu Á; 10 năm thứ ba là “Quốc tế hóa”, NDT trở thành đồng tiền quan trọng trên phạm vi toàn cầu. Tiến trình “3 bước” thứ 2 xác định mục tiêu về chức năng sử dụng đồng NDT, bao gồm: 10 năm đầu tiên thực hiện “thanh toán hóa thương mại”, đồng NDT trở thành đồng tiền thanh toán quốc tế trong thanh toán thương mại; 10 năm thứ hai thực hiện “đầu tư hóa tiền tệ”, NDT trở thành đồng tiền đầu tư trong lĩnh vực đầu tư quốc tế; 10 năm thứ ba thực hiện “dự trữ hóa quốc tế”, NDT trở thành đồng tiền dự trữ quan trọng nhất trên thế giới. Trung Quốc chủ trương thực hiện quốc tế hóa đồng NDT theo phương châm “phát triển trong ổn định”, thực hiện tuần tự và chắc chắn.

Rủi ro đối với thị trường tài chính thế giới

Mặc dù trong thời gian qua, thị trường tài chính thế giới đã trải qua thời kỳ khá ổn định nhờ kinh tế thế giới tăng trưởng liên tục, nhưng rủi ro đối với thị trường tài chính thế giới vẫn tiềm ẩn, đặc biệt là khi các chính sách tài khóa thiếu bền vững của Mỹ kết thúc dần. Nhiều dự báo cho rằng, kinh tế Mỹ sẽ rơi vào suy giảm vào năm 2020 và không giống như năm 2008, đợt suy thoái kinh tế lần này sẽ thiếu đi những công cụ chính sách để kiểm soát (Roubini, N. 2018). Kinh tế toàn cầu có thể tiếp tục tăng trưởng trong năm nay và năm tới do Mỹ thực hiện chính sách nới lỏng tài khóa (giảm thuế thu nhập cá nhân và doanh nghiệp theo luật cải cách thuế mới, Trung Quốc theo đuổi các chính sách nới lỏng tài khóa và tín dụng nhằm thúc đẩy kinh tế trong bối cảnh chiến tranh thương mại và kinh tế châu Âu vẫn tiếp tục xu hướng hồi phục. Tuy nhiên, năm 2020 có thể là thời điểm nguy hiểm cho một cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu diễn ra. Những lý do dẫn tới nguy cơ về một cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu bao gồm:

Thứ nhất, những chính sách tài khóa để kích thích kinh tế Mỹ tăng trưởng cao trong thời gian gần đây không bền vững. Vào năm 2020, chính sách này sẽ dần chấm dứt và kinh tế Mỹ sẽ giảm tốc từ khoảng 3% xuống mức trên 2%;

Thứ hai, do kinh tế Mỹ hiện tăng trưởng quá nóng và lạm phát tăng lên trên mức mục tiêu, FED có thể sẽ nâng lãi suất từ 2,25% hiện nay lên khoảng 3,5% vào năm 2020. Chính sách tiền tệ thắt chặt và lạm phát tăng sẽ khiến tăng trưởng kinh tế Mỹ suy giảm.

Thứ ba, các tranh chấp thương mại giữa chính quyền của tổng thống Donald Trump với Trung Quốc, châu Âu, Mexico, Canada và các nước khác sẽ làm chậm lại đà tăng trưởng kinh tế toàn cầu và lạm phát tăng. Kinh tế châu Âu cũng gặp nhiều rủi ro do chủ nghĩa dân túy, chính sách tiền tệ thắt chặt hơn và những bất đồng về thương mại. Vấn đề nợ công cũng đáng lo ngại ở những nước có chủ nghĩa dân túy gia tăng mạnh như Italia.

Thứ tư, các chính sách của Mỹ có thể tiếp tục gây ra áp lực lạm phát đình đốn: chính sách hạn chế đầu tư và chuyển giao công nghệ vào trong nước và ra nước ngoài của chính quyền tổng thống Donald Trump sẽ làm gián đoạn các chuỗi giá trị toàn cầu; chính sách hạn chế người nhập cư sẽ làm giảm nguồn nhân lực cần thiết để duy trì tăng trưởng khi dân số Mỹ già đi; và việc thiếu chính sách cơ sở hạ tầng để khắc phục những nút thắt cổ chai từ phía cung cũng sẽ hạn chế tăng trưởng.

Thứ năm, thị trường cổ phiếu Mỹ và toàn cầu đang bị thổi phồng. Giá cổ phiếu/lợi nhuận tại Mỹ đã vượt 50% so với mức thông thường, giá trị cổ phiếu của tư nhân đã trở bị định giá quá mức và trái phiếu chính phủ trở nên quá đắt đỏ, trong khi lợi tức trái phiếu thấp và lợi nhuận thực tế ở mức âm. Hơn nữa, đòn bẩy tài chính tại nhiều nền kinh tế đang nổi và một số nền kinh tế phát triển đã quá lớn. Bất động sản thương mại và nhà ở tại nhiều nước trên thế giới quá đắt đỏ, các nhà đầu tư tương lai đã bắt đầu dự báo về một sự suy giảm vào năm 2020 và thị trường sẽ định giá lại các tài sản rủi ro vào năm 2019.

Nếu sự điều chỉnh diễn ra, rủi ro về thiếu thanh khoản và bán tháo sẽ trở nên nghiêm trọng hơn. Trong khi đó, các công cụ chính sách để khắc phục rủi ro ngày càng hạn chế. Tại Mỹ, không gian cho chính sách kích thích tài khóa hiện đã bị hạn chế bởi khối lượng nợ công lớn. Các nhà lập pháp đã hạn chế khả năng FED cung cấp thanh khoản cho các tổ chức tài chính phi ngân hàng và các tổ chức tài chính nước ngoài với các khoản nợ bằng đô la Mỹ. Khả năng sử dụng các chính sách tiền tệ phi truyền thống cũng sẽ bị giới hạn do bảng cân đối tài sản của FED vẫn phình ra sau khi thực hiện các gói nới lỏng tiền tệ, không gian chính sách để cắt giảm lãi suất cũng rất hạn hẹp. Tại châu Âu, sự gia tăng của các đảng dân túy đang khiến cho khu vực này trở nên khó khăn hơn trong việc theo đuổi các cải cách ở cấp độ toàn EU và tạo ra các thể chế cần thiết để đối phó với một cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái toàn cầu tiếp theo. Các gói giải cứu tài chính sẽ không được chấp thuận đối với những nước có nợ công cao, đặc biệt là những nước gia tăng chủ nghĩa dân túy và chính phủ mất khả năng trả nợ.

Do vậy, không giống như năm 2008 khi chính phủ các nước có trong tay công cụ chính sách cần thiết để ngăn chặn tình trạng nền kinh tế rơi tự do, các nhà hoạch định chính sách trong tương lai nếu phải đối mặt với một cuộc suy thoái sẽ bị hạn chế về công cụ chính sách thời kỳ trước khủng hoảng 2008-2009. Cuộc khủng hoảng và suy thoái toàn cầu tiếp theo nếu diễn ra sẽ có mức độ nghiêm trọng lớn hơn và kéo dài hơn so với cuộc khủng hoảng trước.

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Nguyễn Đoan Trang (Ban Kinh tế thế giới)
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202