Tin Kinh tế- xã hội  > Kinh tế thế giới

Triển vọng và các kịch bản tăng trưởng của kinh tế thế giới đến năm 2025

Cập nhật lúc: 13/12/2018 04:00:00 PM

1.Tăng trưởng theo khu vực

Tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong trung hạn sẽ có những động lực tăng trưởng mới, nhưng vẫn chứa đựng nhiều rủi ro do bất ổn từ các nền kinh tế lớn. Trong các năm tới, kinh tế thế giới sẽ xuất hiện một số động lực tăng trưởng mới như phân tích ở trên. Theo Diễn đàn Kinh tế thế giới WEF (2018)[1], sau một thập kỷ trì trệ năng suất, cuộc CMCN 4.0 dự kiến sẽ tạo ra tới 3,7 nghìn tỷ đô la giá trị vào năm 2025 nhờ các công nghệ IoT, robot và in 3D giúp năng suất tăng. Sự phát triển của kinh tế chia sẻ, chiến lược Made in China 2025 của Trung Quốc và xu hướng tăng cường ký kết FTA tại các nền kinh tế đang phát triển cũng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua việc tối ưu hóa nguồn lực, thúc đẩy lưu thông vốn và hàng hóa, tăng cường vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng và phát triển công nghệ. Tuy nhiên, những rủi ro cản trở đà tăng trưởng kinh tế thế giới vẫn tồn tại, đặc biệt là xu hướng bảo hộ thương mại, chiến tranh thương mại và chủ nghĩa dân túy, chống toàn cầu hóa. Cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung có thể khiến cho GDP thế giới giảm 0,2 điểm % vào năm 2019 và 0,46% vào năm 2021, sau đó giảm dần tác động; Tác động tiêu cực xảy ra mạnh vào các năm sau 2021 trở đi do lan toả từ thương mại tới cơ cấu sản xuất của các nước. Cải cách kinh tế Mỹ đang có những dấu hiện tác động tích cực giúp phục hồi kinh tế Mỹ. Tuy nhiên, các biện pháp này cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro cho nền kinh tế Mỹ và kinh tế thế giới trong thời gian tới. Theo nhiều phân tích, việc dòng vốn FDI đổ về Mỹ (do cải cách thuế thu nhập và bảo hộ thương mại) có thể dẫn đến rủi ro bong bóng giá chứng khoán tại Mỹ và giá cổ phiếu tại những nước như châu Á. Bên cạnh đó, việc cắt giảm thuế sẽ dẫn đến rủi ro nợ công và thâm hụt ngân sách của Mỹ trong những năm tới, từ đó cản trở đà tăng trưởng dài hạn của kinh tế Mỹ và kinh tế thế giới.

NCIF dự báo kinh tế thế giới trong một thập kỷ tới sẽ duy trì tốc độ tăng trưởng khá, nhưng với tốc độ tăng chậm lại. Tốc độ tăng trưởng có thể sẽ khác nhau và xoay quanh ba kịch bản chính sau đây:

-Kịch bản 1: Mỹ sẽ áp thuế tổng cộng 250 tỉ USD lên hàng hóa của Trung Quốc như tuyên bố mới đây (50 tỉ USD với mức thuế 25% và 200 tỉ USD với mức thuế 10% từ tháng 9/2018, sau đó nâng lên 25% vào tháng 1/2019) và Trung Quốc trả đũa bằng việc áp thuế bổ sung đối với 60 tỉ USD hàng hóa Mỹ, nâng tổng giá trị hàng hóa áp thuế lên 110 tỉ USD. Theo kịch bản này, kinh tế thế giới được dự báo tăng trưởng khá trong hai năm 2018 và 2019 nhờ sự tăng tốc của cuộc cách CMCN 4.0, sự phát triển của mô hình kinh tế chia sẻ và các biện pháp kích thích tài khóa của Mỹ. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng sẽ chững lại từ năm 2020 do tác động tích cực của các biện pháp kích thích tài khóa giảm dần, các tác động của cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung bắt đầu phát huy tác động lớn hơn và thâm hụt ngân sách của Mỹ tăng ảnh hưởng tiêu cực tới kinh tế Mỹ cũng như thế giới. Bên cạnh đó, sự kiện Brexit sẽ dẫn đến suy giảm thương mại giữa các nước EU và ảnh hưởng tới tăng trưởng thương mại thế giới. NCIF dự báo trong kịch bản này (kết hợp với các cú sốc tổng hợp của kinh tế thế giới gồm chính sách nâng lãi suất của FED, luật cải cách thuế của Mỹ và sự kiện Brexit), tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới dự báo sẽ từ 3,81% năm 2018 xuống 3,36% năm 2025. Tốc độ tăng trưởng kinh tế Mỹ sẽ giảm từ 2,82% năm 2018 xuống 1,79% năm 2025, tăng trưởng kinh tế Trung Quốc giảm từ 6,6% xuống 5,48%, Eurozone giảm từ 2,16% xuống 1,1%, và Nhật Bản giảm từ 1% xuống 0,57%.

-Kịch bản 2: Chiến tranh thương mại leo thang đến mức cao nhất, Mỹ sẽ áp thuế lên toàn bộ 500 tỉ USD hàng hóa của Trung Quốc và Trung Quốc trả đũa bằng việc áp thuế đối với toàn bộ hàng hóa nhập khẩu từ Mỹ. Theo đó, kinh tế thế giới sẽ chịu thiệt hại lớn hơn từ chiến tranh thương mại, với tốc độ tăng trưởng dự báo đạt 3,81% trong năm 2018, giảm xuống 3,48% năm 2020 (thời gian chịu ảnh hưởng lớn nhất của cuộc chiến thương mại), sau đó phục hồi lên 3,56% năm 2022. Kinh tế Trung Quốc sẽ giảm tốc mạnh hơn so với kịch bản 1 cho đến năm 2022, sau đó tốc độ tăng trưởng phục hồi do cuộc chiến thương mại thúc đẩy Trung Quốc điều chỉnh cơ cấu kinh tế trong nước để giảm phụ thuộc vào xuất khẩu sang Mỹ, thúc đẩy tiêu dùng nội địa.

Biểu đồ 7: Các kịch bản tăng trưởng kinh tế thế giới đến năm 2025

Nguồn: Kết quả dự báo từ mô hình NiGEM V3c.18.

Theo các nguồn dự báo (IHSMarkit 2014[1], Fortune 2017[2]) Trung Quốc sẽ nhanh chóng vượt Mỹ để trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới trước năm 2030 nhờ năng suất tăng, dân số lớn, đặc biệt là trong bối cảnh Trung Quốc đang đẩy mạnh thực hiện chiến lược Made in China 2025. Kịch bản của NCIF cũng cho thấy, kinh tế Trung Quốc sẽ vượt quy mô của kinh tế Mỹ vào năm 2026 để trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới, khi đó quy mô kinh tế Trung Quốc dự báo đạt 29,5 nghìn tỉ USD, trong khi kinh tế Mỹ đạt 28,4 nghìn tỉ USD. Tuy nhiên, rủi ro với dự báo này là Trung Quốc có thể không đạt được tăng trưởng cao như dự kiến nếu căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc leo thang và chuyển từ chiến tranh thương mại sang nhiều lĩnh vực khác, gồm cả quân sự.

Biểu đồ 8: Dự báo quy mô nền kinh tế Mỹ và Trung Quốc

(tỉ USD, giá hiện hành)

Nguồn: Dự báo từ mô hình NiGEM v3.18c.

Kinh tế Mỹ

Kinh tế Mỹ được dự báo sẽ tăng trưởng mạnh trong năm 2018 và 2019 nhờ các biện pháp kích thích tài khóa từ luật cải cách thuế mới của Mỹ, nhưng sau đó sẽ giảm tốc. Tăng trưởng kinh tế Mỹ sẽ vượt mức tăng trưởng tiềm năng trong vòng hai năm tới, nhưng trong giai đoạn 2020-2026, đà tăng trưởng sẽ giảm tốc do một số yếu tố lãi suất và giá cả tăng (do chiến tranh thương mại), chi ngân sách liên bang tăng giảm tốc, và các biện pháp ưu đãi giảm thuế thu nhập cá nhân sẽ chấm dứt. Tốc độ tăng trưởng GDP thực và GDP tiềm năng của Mỹ trung bình giai đoạn 2018-2028 đều dự kiến đạt 1,9%/năm. Sản lượng tiềm năng hiện nay và trong một vài năm tới có thể sẽ tăng cao hơn giai đoạn trước khủng hoảng 2007-2009 do tốc độ tăng năng suất đã tăng lên mức trung bình trong vòng 25 năm qua, cộng với những thay đổi gần đây về chính sách tài khóa đã kích thích lao động, đầu tư và tiết kiệm, tuy nhiên sẽ giảm tốc so với những thập kỷ trước do lực lượng lao động tăng chậm. NCIF dự báo với kịch bản Mỹ đánh thuế 250 tỉ USD hàng Trung Quốc (KB1), kinh tế Mỹ sẽ tăng trưởng 2,82% trong năm 2018, giảm xuống 2,15% trong năm 2020, phục hồi lên 2,24% năm 2022 và đạt 2,01% năm 2024.

Kinh tế Trung Quốc

Do nền kinh tế ngày càng phát triển, tốc độ tăng trưởng GDP thực tế của Trung Quốc đã chậm lại đáng kể từ 14,2% năm 2007 xuống còn 6,9% vào năm 2017, và sẽ giảm xuống 5,7% vào năm 2022 (theo dữ liệu và dự báo từ mô hình NiGEM v3.18c). Chính phủ Trung Quốc đã chấp nhận tăng trưởng kinh tế chậm hơn để hướng tới một mô hình tăng trưởng mới ít phụ thuộc vào đầu tư cố định và xuất khẩu và dựa nhiều vào tiêu dùng cá nhân, dịch vụ và đổi mới sáng tạo để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đây là những cải cách cần thiết để cho Trung Quốc tránh "bẫy thu nhập trung bình". Mặc dù kinh tế Trung Quốc được dự báo sẽ tăng trưởng bền vững trong dài hạn, nhưng trong ngắn hạn, Trung Quốc sẽ phải đối mặt với những thách thức mới của kinh tế thế giới, đặc biệt là cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung. Cuộc chiến thương mại sẽ khiến cho thương mại và việc làm trong những ngành xuất khẩu của Trung Quốc sụt giảm mạnh, đặc biệt là giai đoạn 2021- 2023, nhưng trong dài hạn đây sẽ là động lực để Trung Quốc thúc đẩy tái cơ cấu kinh tế, giảm phụ thuộc vào thị trường Mỹ và định hướng thị trường trong nước nhiều hơn. Quy mô kinh tế lớn giúp Trung Quốc có khả năng chống chọi với cuộc chiến thương mại trong dài hạn.

Kinh tế EU

Kinh tế EU đã hồi phục mạnh hơn từ năm 2017 nhờ sự tăng tốc của kinh tế thế giới do sự tăng tốc của kinh tế thế giới dẫn dắt bởi Mỹ và các thị trường đang nổi cũng như sự hồi phục của các nước sau khủng hoảng nợ công châu Âu. Dự báo kinh tế EU sẽ đạt tốc độ tăng trưởng khá trong năm 2018, nhưng sẽ chậm lại từ năm 2019 do tác động của sự kiện Brexit, chiến tranh thương mại và chính sách tiền tệ có thể thắt chặt hơn từ năm 2019. NCIF dự báo kinh tế Eurozone sẽ tăng trưởng 2,16% năm 2018, 1,88% năm 2019, 1,5% năm 2020 và sau đó giảm xuống 1,11% vào năm 2025 (theo KB1).

Kinh tế Nhật Bản

Kinh tế Nhật Bản đã và đang trải qua giai đoạn khó khăn khi tăng trưởng dưới mức tiềm năng do tình trạng già hóa dân số khiến lực lượng lao động bị thu hẹp. Tốc độ tăng năng suất lao động Nhật Bản bị đình trệ dưới mức 2% trong 2 thập kỷ qua. Lợi nhuận đầu tư của các doanh nghiệp Nhật Bản thấp hơn 23 điểm % so với các tập đoàn tương đương của Mỹ. Tăng trưởng GDP Nhật Bản được NCIF dự báo sẽ tiến triển một cách chậm chạp và chỉ đạt mức xấp xỉ 1% trong giai đoạn 2018-2025, trong khi McKinsey dự báo 1,3%[1]. Dân số trong độ tuổi lao động của Nhật Bản dự báo sẽ giảm từ 79 triệu người năm 2012 xuống 71 triệu người năm 2025. Nhật Bản đang trong quá trình nỗ lực cải tiến để thúc đẩy năng suất trong bối cảnh không thể cắt giảm chi phí. Do đó, hoạt động của khu vực tư nhân sẽ là động lực phát triển chính của kinh tế Nhật Bản với việc gia nhập các thị trường mới. Chính phủ đặt mục tiêu giảm thâm hụt ngân sách từ mức thâm hụt 3,4% GDP năm 2017 xuống thâm hụt 1,5% năm 2021[2].

Bảng 6: Dự báo tốc độ tăng trưởng của một số nền kinh tế chủ chốt (%)

Nguồn: Dự báo từ mô hình NiGEM v3.18c.

2.1.2. Theo ngành

Trong giai đoạn từ nay đến năm 2025, các ngành sản xuất trên toàn cầu sẽ chịu tác động mạnh mẽ bởi cuộc CMCN 4.0 do cuộc cách mạng này có quy mô, phạm vi, độ phức tạp và khả năng chuyển hoá khác hoàn toàn so với các cuộc CMCN mà thế giới đã trải qua. Trong lĩnh vực sản xuất, cuộc CMCN 4.0 sẽ biến đổi nhiều mô hình sản xuất và kinh doanh làm thay đổi toàn bộ hệ thống sản xuất, quản lý và quản trị trong các ngành sản xuất.

Ngành công nghiệp có những tác động rõ rệt đầu tiên do phương thức sản xuất thay đổi. Với những công nghệ hiện đại có thể kết nối thế giới thực và ảo để sản xuất, con người có thể điều khiển quy trình ngay tại nhà mà vẫn bao quát tất cả mọi hoạt động của nhà máy thông qua sự vượt trội về Internet. Nhờ đó, chi phí sản xuất giảm, sản lượng công nghiệp tăng nhanh và tăng trưởng kinh tế được thúc đẩy mạnh mẽ. Ví dụ đối với ngành công nghiệp dệt may, giày dép, những đột phá công nghệ quan trọng của cuộc CMCN 4.0 có thể giúp định hình ngành này trên phạm vi toàn cầu: (i) công nghệ chế tạo đắp dần, máy chụp thân thể, thiết kế bằng máy tính giúp có thể sản xuất các sản phẩm hàng loạt các sản phẩm phù hợp với những thông số đơn lẻ của từng khách hàng; (ii) công nghệ nano giúp các sản phẩm dệt may, giày dép có thể tích hợp các chức năng theo dõi sức khỏe (đo nhịp tim, lượng calo giải phóng liên tục v.v…); (iii) tự động hóa khâu cắt và khâu may (sử dụng robots, trong khâu may còn được gọi là sewbots).

CMCN 4.0 trong ngành nông nghiệp hướng đến tương lai quy trình chăn nuôi, trồng trọt với mức tự động hoá và quy chuẩn cao. Các công nghệ mới trong ngành nông nghiệp được chia làm 4 nhóm chính: cảm biến, thực phẩm, tự động và kỹ thuật. Trong đó, công nghệ cảm biến cho phép người sản xuất chẩn đoán và theo dõi mùa màng theo thời gian thực, hỗ trợ chăn nuôi và máy móc nông nghiệp. Công nghệ thực phẩm sẽ mang lại những thành tựu về gen cũng như khả năng tạo ra thịt từ phòng thí nghiệm, cải tạo các giống cây trồng và vật nuôi cho năng suất, chất lượng cao và khả năng thích ứng tốt với môi trường nhiều thay đổi. Công nghệ tự động trong nông nghiệp sẽ được thực hiện bởi các người máy kích thước lớn hoặc người máy siêu nhỏ để giám sát quá trình gieo trồng. Công nghệ kỹ thuật giúp nông nghiệp mở rộng quy mô sang những phương thức mới và lĩnh vực mới của nền kinh tế.

Đối với ngành năng lượng, những tiến bộ lớn về công nghệ trong sản xuất năng lượng tái tạo (như năng lượng mặt trời, gió) do CMCN 4.0 mang lại sẽ giúp giảm giá thành sản phẩm và sự phụ thuộc vào các nguồn năng lượng không tái tạo, đặc biệt là năng lượng hóa thạch đang gây ra ô nhiễm và sự nóng lên của trái đất. Bên cạnh đó, việc ứng dụng biểu đồ gen còn được sử dụng để tạo ra các loại thực vật làm nhiên liệu (ví dụ như nhiên liệu sinh học), từ đó có thể tạo ra năng lượng tái tạo thay thế năng lượng truyền thống hiện nay.

Ngành dịch vụ và thương mại sẽ chịu ảnh hưởng lớn từ xu thế phát triển của kinh tế chia sẻ. Nhờ hiệu quả cao hơn, các dịch vụ chia sẻ sẽ thách thức các ngành kinh doanh truyền thống. Trong lĩnh vực vận tải, nhờ ứng dụng điện thoại di động và mạng lưới các tài xế uy tín, các hãng taxi như Uber sẽ thỏa mãn nhu cầu đi lại của khách hàng với trải nghiệm dịch vụ tốt hơn, an toàn và tiện lợi hơn và giá cả phải chăng hơn so với taxi truyền thống. Trong lĩnh vực hàng tiêu dùng, các ứng dụng bán hàng trực tuyến như eBay cho phép người sử dụng mua bán hàng trực tuyến và vận chuyển hàng đến tận nơi. Người tiêu dùng cũng được trải nghiệm phương thức mua bán tiện lợi và hiệu quả hơn với giá cả phải chăng. Ngành y tế cũng thay đổi theo phương thức chia sẻ nguồn lực (thiết bị y tế), khám chữa bệnh từ xa và tư vấn theo nhóm. Kinh tế chia sẻ trong ngành y tế dự báo cũng sẽ tạo ra doanh thu 8,7 nghìn tỉ USD vào năm 2020.

 


[1] MCKinsey global institute (3/2015).

[2] Với tỷ lệ nợ / GDP tổng của Chính phủ là 253%, cao hơn nhiều so với các nước đang nỗ lực để tài trợ nợ, như Italia ở mức 133%. Đức - mô hình thường được trích dẫn về sức khỏe tài chính - có tỷ lệ nợ trên tổng GDP chỉ bằng 66%

 


[1] IHSMarkit (2014), China to Become World’s Largest Economy in 2024 Reports IHS Economics, tháng 9/2014.

[2] Fortune (2017), China Will Overtake the U.S. as World's Largest Economy Before 2030, tháng 2/2017.

 

 


[1] WEF (2018a).

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Nguyễn Đoan Trang (Ban Kinh tế thế giới)
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202