Tin Kinh tế- xã hội  > Kinh tế vĩ mô

Chính sách công nghiệp và thu hút FDI của Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0

Cập nhật lúc: 27/12/2018 09:00:00 AM

Chính sách công nghiệp

Việt Nam được quốc tế đánh giá cao về tiềm năng phát triển ngành công nghiệp chế biến chế tạo. Báo cáo xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh ngành công nghiệp chế biến chế tạo 2016, tập đoàn Deloitte dự báo Việt Nam sẽ đứng thứ 12 trên thế giới về năng lực cạnh tranh công nghiệp vào năm 2020, vượt cả các nước Malaysia, Thái Lan và Indonesia trong khu vực châu Á Thái Bình Dương (Biểu đồ 12).

Xếp hạng năng lực cạnh tranh ngành công nghiệp chế biến chế tạo, dự báo cho năm 20120

Nguồn: Deloitte Touche Tohmatsu Limited and US Council on Competitiveness

Lợi thế về chi phí lao động giá rẻ là một lợi thế của Việt Nam trong phát triển ngành công nghiệp chế biến chế tạo. Tuy nhiên, sự nổi lên của cuộc cách mạng  công nghiệp 4.0 đã dẫn đến nhiều công ty di chuyển cơ sở sản xuất của họ từ các nền kinh tế đang phát triển và đưa trở lại quốc gia của họ. Theo Krishnamurthy Ramanathan, cựu giám đốc Trung tâm châu Á và Thái Bình Dương, nhiều quốc gia mới nổi đang gặp khó khăn trong sản xuất và phụ thuộc rất nhiều vào các dịch vụ thuê ngoài. Khi các nước có khả năng sản xuất mạnh mẽ, như Trung Quốc ngày càng trở nên mạnh hơn, đặc biệt là nhờ chiến lược Made in China 2025, các nước đang phát triển như Việt Nam cần chủ động hơn để không bị ảnh hưởng bất lợi bởi nó. Do đó, Việt Nam xem xét chuẩn bị cho những thay đổi đi kèm với sự chuyển đổi hoàn toàn sang các ngành công nghiệp 4.0, để tránh sự mất cân bằng trong một thế giới đang thay đổi.

Trong tương lai, ngành công nghiệp của Việt Nam khó có thể cạnh tranh nếu chỉ dựa vào lao động giá rẻ. Ngành công nghiệp trong tương lai sẽ đòi hỏi ít lao động hơn và lao động có trình độ cao hơn cho các hệ thống sản xuất, các sản phẩm này sẽ bền vững hơn và hiệu quả hơn về chi phí để vận hành chặt chẽ với khách hàng (làn sóng đưa các hoạt động sản xuất về nước, như chính sách mới của tổng thống Trump). Chính phủ và các doanh nghiệp cần xác định rõ những lợi thế trong tương lai là gì nếu những lợi thế cạnh tranh truyền thống mất đi. 

Một vấn đề đáng quan tâm khác là việc làm. Sản xuất trình độ cao sẽ đòi hỏi một loại hình lao động khác trong tương lai. Robot sẽ thay thế nhiều hoạt động về tinh thần cũng như thể chất của người lao động. Do vậy, các công nhân trong tương lai sẽ cần thành thạo các kỹ năng mềm như làm việc theo nhóm, sáng tạo, tư duy phê phán, cũng như kỹ năng kỹ thuật. Đây sẽ là một thách thức rất lớn đối với hệ thống giáo dục truyền thống.

CMCN 4.0 cũng mang lại những cơ hội tiềm năng cho một nền kinh tế mới nổi như Việt Nam. Lợi thế trước tiên và rõ ràng nhất là quy mô thị trường tiêu thụ lớn, đây là một động lực quan trọng để thúc đẩy sản xuất trong nước, đổi mới và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Cuộc CMCN 4.0 giúp giảm rào cản gia nhập thị trường cho các doanh nghiệp, tạo ra các công cụ kỹ thuật số, các cảm biến chi phí thấp và mạnh mẽ, công nghệ in 3D và các công nghệ khác, nhờ đó sẽ tạo ra những doanh nghiệp mới, những cơ hội và mô hình kinh doanh mới. Đây là một cơ hội rất lớn để Việt Nam có thể tạo ra những sản phẩm và dịch vụ đặc thù cho thị trường trong nước dựa trên tiềm năng của chính mình.

Theo báo cáo Readiness for the Future of Production Report 2018 (Những quốc gia sẵn sàng nhất cho nền sản xuất tương lai) của Diễn đàn kinh tế thế giới WEF (1/2018) xếp hạng 100 nước về sự sẵn sàng tham gia vào sản xuất cho tương lai, Việt Nam đứng thứ 70 về nguồn nhân lực, 90 về công nghệ và đổi mới sáng tạo (trong đó xếp hạng về nền tảng công nghệ là 92 và năng lực đổi mới sáng tạo là 77). Theo các chỉ tiêu trên, Việt Nam chưa sẵn sàng cho cuộc CMCN 4.0 do các chỉ số liên quan đến đổi mới sáng tạo còn ở mức thấp.[1] Một số chỉ tiêu Việt Nam xếp hạng cao gồm thương mại và đầu tư (xếp thứ 13) và nhu cầu (xếp thứ 39, trong đó quy mô thị trường xếp thứ 29). Trong số 4 nhóm gồm nhóm dẫn dắt, nhóm có tiềm năng cao, nhóm di sản và nhóm sơ khai, Việt Nam được xếp vào nhóm sơ khai, nhưng cũng tiệm cận các nước thuộc nhóm có tiềm năng cao. Theo đó, năng lực công nghệ và đổi mới sáng tạo cùng với chất lượng nguồn nhân lực hiện là những rào cản lớn nhất mà Việt Nam cần khắc phục để thúc đẩy cách mạng công nghiệp 4.0 trong thời gian tới.

Xếp hạng của Việt Nam về mức độ sẵn sàng cho sản xuất tương lai

Nguồn: WEF (2018)

Những đề xuất chính sách cần thiết để Việt Nam có thể thúc đẩy CMCN 4.0 bao gồm:

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống thể chế thuận lợi cho nền kinh tế số phát triển và tham gia CMCN 4.0 (điều tiết thông minh, dữ liệu mở, an toàn thông tin, v.v.), tự do hóa đầu tư, ứng dụng CMCN 4.0 và kinh tế chia sẻ (tự do hóa thị trường để doanh nghiệp có không gian phát triển các ứng dụng cung cấp dịch vụ trên nền tảng số như Fintech, các nền tảng ứng dụng trong mô hình kinh tế chia sẻ);

Thứ hai, xây dựng hạ tầng kỹ thuật ICT, bao gồm hệ thống băng thông rộng, hạ tầng internet tốc độ cao, không dây v.v., đồng thời với xây dựng hệ thống dữ liệu lớn, mở, đảm bảo vận hành của các lĩnh vực kinh tế số và thực hiện các giải pháp thông minh;

Thứ ba, khẩn trương thực hiện Chính phủ điện tử cho tương thích với xu hướng của nền kinh tế số;

Thứ tư, đào tạo cán bộ, công chức tư duy, kiến thức quản trị mới phù hợp với công nghệ số và CMCN 4.0; Khuyến khích hợp tác với chuyên gia quốc tế và Việt kiều, hợp tác giữa các trường/cơ sở R&D trong nước với quốc tế (Mỹ, Singapore v.v.) trong nghiên cứu, phát triển và ứng dụng CMCN 4.0. Khuyến khích các trường thành lập quỹ hỗ trợ đào tạo, hỗ trợ nghiên cứu công nghệ và đầu tư vào doanh nghiệp công nghệ;

Thứ năm, thiết kệ lại hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, t thống đổi mới sáng tạo quốc giauỹ hỗ thoạt động R&D kết nối với doanh nghiệp, thúc đẩy ươm tạo doanh nghiệp công nghệ và phát triển start-up.

Thứ sáu, rà soát mục tiêu tái cơ cấu kinh tế để điều chỉnh kịp thời nhằm tận dụng cơ hội của CMCN 4.0. Tái cơ cấu đầu tư công theo hướng đầu tư tập trung hơn vào hạ tầng kỹ thuật ICT; Tái cơ cấu DNNN theo hướng thoái vốn ở các ngành không cần đầu tư, chuyển hướng đầu tư vào nền tảng kết nối, an ninh mạng, tư vấn khai thác dữ liệu, AI, R&D và chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp tư nhân (chấp nhận rủi ro) và xây dựng các plattform; Tái cơ cấu khu vực sự nghiệp công trong lĩnh vực KHCN và đào tạo theo hướng tập trung nguồn lực, đổi mới quản trị theo mô hình doanh nghiệp không vì mục tiêu lợi nhuận (như mô hình các trường Đại học Havard, Đại học California), tập trung nguồn lực KHCN vào nghiên cứu ứng dụng CMCN 4.0 trong ngành chế tạo, hợp tác với doanh nghiệp theo mô hình một số nước phát triển (Đức, Mỹ, Singapore).

Chính sách thu hút FDI

Một thách thức đối với thu hút FDI của Việt Nam trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0 là lao động chân tay sẽ được thay thế bởi robot, tự động hóa, do vậy có thể dẫn đến xu hướng dịch chuyển FDI ra khỏi Việt Nam trong ngành chế biến chế tạo để trở lại những nước có công nghệ robot phát triển như Trung Quốc. Trong thời gian qua, chi phí lao động của Trung Quốc ngày càng tăng đã khiến ngày nhiều doanh nghiệp FDI tại Trung Quốc tìm kiếm nơi khác để sản xuất hàng hóa. Tuy nhiên, thời gian gần đây, nhờ thúc đẩy phát triển CMCN  4.0 và các nhà máy mang tính kết nối cao, nhiều công ty dịch chuyển sản xuất sang các nước có chi phí nhân công rẻ hơn đã quay trở lại Trung Quốc. Trung Quốc hiện đã mua gần một phần ba rô bốt công nghiệp của thế giới với hầu hết được nhập khẩu từ nước ngoài. Hơn nữa, chính phủ đang hỗ trợ xu hướng này bằng cách đầu tư mạnh vào chương trình sản xuất robot trong nước. Chương trình quốc gia Made in China 2025 của Trung Quốc nhằm mục đích đưa đất nước dẫn đầu cuộc đua về thống trị trong robot khiến các chuyên gia dự báo rằng Trung Quốc một lần nữa sẽ trở thành nhà sản xuất điểm đến của sự lựa chọn cho cả các công ty trong và ngoài nước. Do vậy, Việt Nam cần nhận thức được xu hướng thoái vốn FDI trong những ngành thâm dụng lao động để quay trở lại các nước phát triển hoặc các nước đẩy mạnh CMCN 4.0 như Trung Quốc để có những giải pháp giữ chân các doanh nghiệp FDI, thay đổi chính sách và chiến lược thu hút FDI thế hệ mới trong bối cảnh CMCN 4.0.

 


[1] 25 quốc gia vào vị trí sẵn sàng cao nhất cho cuộc các mạng công nghiệp 4.0, đa nằm ở châu Âu, Bắc Mỹ và khu vực Đông Á, bao gồm Mỹ, Anh, Thụy Điển, Thụy Sỹ, Canada, Trung Quốc, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và Malaysia.

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Nguyễn Đoan Trang (Ban Kinh tế thế giới)
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202