Tin Kinh tế- xã hội  > Kinh tế thế giới > Mỹ

Tác động của Luật thuế cải cách Mỹ đến kinh tế Việt Nam và một số ngụ ý chính sách

Cập nhật lúc: 12/12/2018 02:00:00 PM

Ngày 20/12/2017, Luật cải cách thuế lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ đã được Hạ viện Mỹ thông qua với tỷ lệ bỏ phiếu đồng thuận là 224 - 201. Những điểm chính của Luật này bao gồm: điều chỉnh cắt giảm thuế thu nhập doanh nghiệp với mức giảm từ 35% xuống 21%; cắt giảm thuế thu nhập cá nhân và gia đình; đồng thời sửa đổi cách tính thuế chuyển lợi nhuận về nước với các công ty đa quốc gia. Luật cải cách thuế mang tới sự thay đổi mạnh vì nó không chỉ tác động tới rất nhiều khía cạnh của kinh tế xã hội nước Mỹ mà còn tác động gián tiếp đến phần còn lại của thế giới chủ yếu thông qua sự thay đổi lớn về mức thuế thu nhập doanh nghiệp và quy định thuế lợi nhuận chuyển về nước. 

Mỹ là đối tác thương mại hàng đầu và đối tác đầu tư lớn thứ 9/100 nước, lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam,  Luật thuế mới của Mỹ có thể sẽ có ảnh hưởng đến Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang chịu những biến động ngày càng lớn của nền kinh tế thế giới trong những năm gần đây do độ mở của nền kinh tế đang ngày càng lớn.

Điều chỉnh Luật thuế của Mỹ có thể ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam chủ yếu trên hai kênh tác động trực tiếp là thương mại và đầu tư. Về đầu tư, theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), đầu tư của Mỹ tại Việt Nam có xu hướng tăng trong vài năm gần đây. Cụ thể năm 2015, vốn đăng ký của Mỹ là 224,4 triệu USD; năm 2016 là 430,4 triệu USD (tăng 91,8%) và năm 2017 đạt 874,4 triệu USD (tăng hơn 2 lần so với năm 2016. Tính lũy tiến đến 5/2018 Mỹ có 879 dự án, vốn đăng ký là 9,59 tỷ USD. Kể từ ngày 22/12/2017 đến hết tháng 3/2018, (sau khi Mỹ có thay đổi chính sách thuế), Mỹ có thêm 17 dự án mới với tổng số đầu tư là 90,82  triệu USD và 4 dự án tăng vốn với tổng số vốn tăng thêm là 1,733 triệu USD, so với cùng kỳ năm 2017,  vẫn thể hiện sự gia tăng nếu tính theo giá trị vốn: 3 tháng đầu năm 2017,  số dự án mới của Mỹ vào Việt Nam cũng là 17 dự án, song tổng số vốn đầu tư đăng ký cấp mới chỉ là 5,2 triệu USD và 3 dự án tăng vốn với tổng số vốn là 23,98 triệu USD[1].

Mặc dù đầu tư FDI của Mỹ vào Việt Nam còn khá khiêm tốn so với các đối tác đầu tư lớn của Việt Nam như Hàn Quốc (57,66 tỷ USD, năm 2017), Nhật Bản (49,46 tỷ USD chiếm 15,5% tổng vốn đầu tư),  Mỹ đã đứng thứ 9 trong danh sách 10 quốc gia đầu tư trực tiếp nhiều nhất vào Việt Nam.

Luật thuế mới của Mỹ có thể có tác động đến đầu tư của Mỹ tại Việt Nam trên một số góc độ sau: Thứ nhất, với mức thuế thu nhập doanh nghiệp giảm mạnh xuống 21% và và áp thuế với khoản lợi nhuận phát sinh từ nước ngoài,các công ty Mỹ đang đầu tư tại Việt Nam có thể xem xét lại các chiến lược đầu tư ở Việt Nam hoặc có thể rút lợi nhuận từ Việt Nam để chuyển hoạt động về Mỹ, thay vì tiếp tục mở rộng đầu tư tại Việt Nam. Thứ hai, xu hướng giảm thuế của Mỹ có thể gây ra làn sóng giảm thuế của một số nước khác hoặc các ưu đãi khác nhằm giữ doanh nghiệp Mỹ ở lại, từ đó làm cho sức cạnh tranh của môi trường đầu tư của Việt Nam bị giảm đi tương đối.  So với các nước trong khu vực, năng suất lao động (NSLĐ) của Việt Nam (tính theo $PPP), mặc dù đã được cải thiện và thu hẹp khoảng cách, song vẫn còn rất lớn. Năm 2015, NSLĐ Việt Nam thấp hơn NSLĐ của Singapore 17 lần, thấp hơn NSLĐ của Nhật Bản 11 lần, thấp hơn NSLĐ của Hàn Quốc 10 lần, bằng 1/5 NSLĐ của Malaixia và 2/5 NSLĐ của Thái Lan[2]. Điều đáng nói là, NSLĐ của các nước kém phát triển hơn đang dần bắt kịp NSLĐ của Việt Nam cho thấy năng lực cạnh tranh của Việt Nam còn yếu và nguy cơ tụt hậu của nền kinh tế là khá rõ. Tuy nhiên, nếu sự chuyển hướng đầu tư xảy ra, tác động lớn sẽ tập trung vào dòng FDI đang tận dụng lợi thế chi phí rẻ của Việt Nam hơn là dòng FDI đầu tư vào các tài sản chiến lược hoặc đầu tư với mục tiêu chiếm lĩnh thị trường. Cơ cấu đầu tư của Mỹ ở Việt Nam tập trung nhiều hơn vào nhóm thứ nhất hơn, vì thế có thể tác động trực tiếp sẽ là không lớn.

Bảng 4: Cơ cấu đầu tư của một số nước vào Việt Nam

Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài

Ngoài ra, Việt Nam đang đẩy mạnh tiến trình ký kết các hiệp định thương mại tự do đa phương, nổi bật là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), tín hiệu tích cực cho thấy triển vọng thu hút đầu tư của Việt Nam từ các nước khác.

Sử dụng mô hình NIGEM để đánh giá tác động cho thấy dòng vốn FDI vào Việt Nam có thể bị ảnh hưởng tiêu cực trong ngắn hạn, song tác động là không đáng kể. Dự báo những thay đổi về  thuế của Mỹ sẽ làm tổng vốn FDI của Việt Nam giảm nhẹ ở mức 0.62 tỷ VNĐ (tương đương  giảm gần 28 ngàn USD) vào năm 2018, 2,59 tỷ VNĐ (tương đương giảm 114. 096 USD) năm 2019, và phục hồi trở lại vào năm 2020. Ngoài ra, tác động tích cực từ các FTA và tiến trình cải cách kinh tế của Việt Nam sẽ tiếp tục thu hút FDI vào Việt Nam bù đắp cho tác động tiêu cực trên. Tuy nhiên đây chỉ là tác động trực tiếp từ việc Mỹ giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, tác động gián tiếp khác như việc các quốc gia khác sẽ hạ thuế hoặc có các cải thiện về môi trường đầu tư chưa được tính đến.

Đối với thương mại, theo số liệu của Tổng cục Hải quan, Mỹ là một trong những đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam trong những năm qua. Trong giai đoạn từ năm 2000- 2017, thương mại hàng hóa Việt Nam - Mỹ tăng hơn 40 lần. Trong đó, tốc độ tăng xuất khẩu trong giai đoạn từ năm 2000-2017 bình quân đạt khoảng 28%/năm, từ 732 triệu USD năm 2000 lên 41,6 tỉ USD năm 2017. Nổi bật nhất là năm 2002 với mức tăng 127,3%, năm 2003 tăng 62,7%, năm 2006 tăng 32%. Việt Nam luôn xuất siêu sang Mỹ với giá trị ngày càng lớn. Trong năm 2017, Việt Nam xuất khẩu hàng hóa trị giá 41,6 tỉ đô la Mỹ sang thị trường Mỹ, tăng 8,2% so với cùng kỳ. Xuất khẩu sang Mỹ chiếm khoảng 20% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Ngược lại, lượng hàng hóa nhập khẩu Mỹ chỉ đạt 9,2 tỉ đô la Mỹ, tăng 5,8% so với cùng kỳ. Nhờ vậy, Mỹ đã trở thành thị trường lớn nhất mà Việt Nam xuất siêu trong năm 2017, đạt 32,4 tỉ đô la Mỹ.

Theo cơ cấu mặt hàng, Mỹ là thị trường nhập khẩu các hàng dệt may, da giày lớn nhất của Việt Nam. Trong đó, xuất khẩu dệt may sang Mỹ năm 2017 đạt 12,28 tỉ đô la Mỹ (tăng 7,3%), chiếm 47% tổng giá trị xuất khẩu dệt may cả nước; xuất khẩu giày dép đạt 5,11 tỉ đô la Mỹ (tăng 14%). Ngoài ra, Việt Nam còn có thế mạnh xuất khẩu nông - lâm - thủy sản sang thị trường này với các mặt hàng như hạt điều đạt 1,22 tỉ đô la Mỹ (tăng 25,7%); thủy sản đạt 1,4 tỉ đô la Mỹ (giảm 2%), gỗ và một số sản phẩm từ gỗ đạt 3,27 tỉ đô la Mỹ (tăng 15,7%).

Sự bùng nổ về đầu tư của Mỹ do áp dụng Luật thuế mới nhiều khả năng có thể chỉ được đáp ứng một phần từ nguồn trong nước và do vậy phát sinh nhu cầu vốn cũng như hàng hóa từ các nước khác, đặc biệt các nước là đối tác thương mại hàng đầu của Mỹ như Việt Nam. Do đầu tư của Mỹ vào Việt Nam không thay đổi nhiều (như phân tích ở trên) nên cũng không có ảnh hưởng lớn tới thương mại qua kênh đầu tư. Kết quả phân tích định lượng thông qua mô hình NIGEM cho thấy việc thực hiện Luật cải cách thuế gần như không có tác động đáng kể đến thương mại Việt Nam trong năm đầu tiên khi Mỹ thực hiện Luật thuế, tăng trưởng xuất khẩu và nhập khẩu trong  năm tiếp theo (2019) có giảm nhẹ nhưng mức độ không đáng kể. Năm 2020 bắt đầu có sự phục hồi trở lại.

Bảng 5: Đánh giá tác động đến nền kinh tế Việt Nam (% thay đổi so với kịch bản gốc)

Nguồn: Tính toán của NCIF dựa trên mô hình Nigem

Như vậy có thể thấy, về mặt lý thuyết, Luật cải cách thuế tại Mỹ sẽ tác động đến nền kinh tế Mỹ và các nước khác trên thế giới theo các kênh tác động sau:

Thứ nhất,  giảm thuế thu nhập cá nhân theo Luật thuế của Mỹ sẽ (i) tác động đến hành vi của cá nhân và doanh nghiệp Mỹ thông qua tác động thu nhập và tác động thay thế, từ đó gây ra tác động tiêu cực và tích cực đến quy mô nền kinh tế, (ii) tác động đến tiêu dùng nội địa Mỹ. Đối với tiêu dùng tư nhân, việc giảm thuế thu nhập cá nhân sẽ làm tăng tiêu dùng tư nhân, đối với tiêu dùng chính phủ, cắt giảm thuế thu nhập cá nhân và thu nhập chính phủ sẽ dẫn đến giảm nguồn thu thuế. Do vậy, trong ngắn hạn khi việc giảm thuế chưa dẫn đến những tác động kích thích kinh tế để bù đắp lại nguồn thuế giảm, tiêu dùng chính phủ có thể sẽ giảm do thu ngân sách giảm.

Thứ hai, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ có tác động sâu rộng không chỉ tới kinh tế Mỹ mà cả các nền kinh tế khác trên thế giới, do đầu tư của các công ty Mỹ ở nước ngoài rất lớn và do Mỹ là đối tác thương mại lớn của nhiều quốc gia trên thế giới. Cụ thể, việc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp tại Mỹ sẽ có tác động tới: (i) Đầu tư tư nhân. Khi thuế thu nhập giảm, chi phí sử dụng vốn giảm sẽ giúp tăng lợi nhuận kỳ vọng của các nhà đầu tư, do vậy tạo động lực để kích thích đầu tư tư nhân, (ii) Ngân sách của Mỹ. Việc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ có hai tác động trái chiều tới ngân sách:  Một là, trong ngắn hạn, ngân sách có thể sẽ giảm do thu ngân sách từ thuế thu nhập doanh nghiệp giảm, và hai là trong dài hạn, ngân sách có thể sẽ tăng do tăng năng suất doanh nghiệp và quy mô của nền kinh tế do kích thích đầu tư; (iii) Cơ cấu kinh tế của Mỹ. Giảm thuế thu nhập doanh nghiệp giúp giảm những méo mó do thuế gây ra và tạo ra sự dịch chuyển về cơ cấu của các hoạt động kinh tế theo hướng nâng cao hiệu quả (ngay cả khi mức độ hoạt động kinh tế không thay đổi) và thu hẹp những ngành hiện được ưu đãi thuế, như ngành y tế và nhà ở. Do vậy, tăng trưởng kinh tế  Mỹ có thể được cải thiện nhờ sự dịch chuyển này; (iv) Thương mại quốc tế. Kinh tế Mỹ tăng tốc nhờ giảm thuế có thể tác động tích cực tới thương mại thế giới do làm tăng nhu cầu nhập khẩu hàng hóa tiêu dùng và đầu tư từ nước ngoài.

Thông qua tổng hợp tài liệu nghiên cứu thực nghiệm, kết hợp giữa phân tích định tính và định lượng từ mô hình kinh tế lượng toàn cầu NIGEM, có thể thấy việc áp dụng Luật cải cách thuế mới của Mỹ sẽ có những tác động cụ thể sau đến kinh tế Mỹ và các nước trên thế giới:

Đối với kinh tế Mỹ: Luật thuế cải cách sẽ góp phần kích thích tăng trưởng kinh tế Mỹ, gia tăng việc làm nhờ kích thích tăng tiêu dùng nội địa và đầu tư. Kết quả mô phỏng định lượng cú sốc thay đổi ngân sách từ các nguồn thu thuế của Mỹ sau khi áp dụng Luật thuế mới từ mô hình NIGEM cho thấy GDP của Mỹ tăng trưởng thêm 0.6% năm 2018, và tăng tốc thêm 1% năm 2019 so với kịch bản không có Luật thuế. Lương danh nghĩa và số việc làm của Mỹ tăng trong ngắn hạn (khoảng 4 năm sau khi thực hiện cú sốc) sau đó giảm trong dài hạn. Mặc dù vậy, doanh thu từ thuế của Mỹ sẽ giảm trong ngắn hạn do giảm thuế, do vậy ảnh hưởng tới ngân sách.

Đối với kinh tế thế giới: Trong ngắn hạn, Luật thuế có thể kích thích tăng trưởng kinh tế thế giới do kinh tế Mỹ được kích thích nhờ các biện pháp nới lỏng tài khóa (giảm thuế), từ đó kéo theo tăng trưởng kinh tế của các nước đối tác và kinh tế thế giới, do Mỹ là nền kinh tế lớn nhất thế giới. Đánh giá định lượng từ mô hình NIGEM cho thấy, GDP thế giới có xu hướng tăng nhẹ vào năm 2018, 2019, song tác động tích cực của Luật thuế đối với tăng trưởng GDP của thế giới sẽ giảm từ năm 2021 ở mức (-0,03%). Mặc dù có tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế thế giới, chính sách cải cách thuế của Mỹ lại có thể gây ra những tác động tiêu cực tới tăng trưởng thương mại thế giới, đặc biệt là trong dài hạn. Kết quả ứng dụng mô hình NIGEM cho thấy trong dài hạn, thương mại thế giới dưới tác động của Luật thuế có thể giảm, đặc biệt là vào năm 2020.

Nghiên cứu các tác động của Luật thuế đến một số nền kinh tế chủ chốt, đối tác quan trọng về thương mại và đầu tư của Mỹ cho thấy kết quả tương tự, tuy nhiên, tuỳ theo mối quan hệ phụ thuộc về thương mại và đầu tư với Mỹ mà với mỗi nền kinh tế khác nhau mức độ tác động của Luật thuế cũng sẽ khác nhau.

Đối với nền kinh tế châu Âu, là đối tác đầu tư lớn của Mỹ, Luật thuế có tác dụng khiến FDI hai chiều đều tăng trong ngắn hạn, song về dài hạn Mỹ vẫn có lợi hơn so với EU nhờ thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn. Kết quả đánh giá định lượng từ mô hình NIGEM cho thấy, vốn đầu tư tích luỹ của các nước thuộc khu vực châu Âu không chịu tác động của Luật thuế trong năm đầu tiên tuy nhiên, vốn đầu tư của các nước này có thể giảm hai năm sau đó, nhưng với mức độ giảm không đáng kể. Xuất khẩu tăng thêm 0,06% năm 2018, 0,16% năm 2019; 0,11% năm 2020 và giảm từ năm 2021 và những năm sau đó. GDP của khu vực Eurozone  tăng thêm 0,08% năm 2018, giảm còn 0,04% năm 2019 và giảm nhẹ từ năm 2020 ở mức -0,13% và những năm sau đó.

Đối với nền kinh tế Nhật Bản, việc Mỹ giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cũng dẫn tới khả năng các công ty Mỹ đầu tư tại Nhật Bản rút tiền mặt để chuyển về Mỹ, khiến vốn đầu tư tích luỹ của Nhật Bản giảm đi. Tuy nhiên, Nhật Bản có số lượng công ty thực hiện đầu tư tại Mỹ rất lớn, đặc biệt là các công ty hoạt động trong lĩnh vực bán buôn, bán lẻ và dịch vụ, do đó có thể được hưởng lợi nhờ tiêu dùng tại Mỹ tăng. Điều này có thể sẽ giúp giảm bớt tác động tiêu cực của Luật thuế Mỹ đên nền kinh tế Nhật Bản. Kết quả phân tích cho thấy, vốn đầu tư tích luỹ của Nhật Bản chịu tác động nhỏ nhất từ Luật thuế trong số các nước được nghiên cứu, với vốn đầu tư gần như không thay đổi từ năm 2018-2022, giảm nhẹ từ năm 2023. GDP tăng thêm lần lượt ở mức 0,08% và 0,07% trong 2 năm 2018, 2019 và gần như không thay đổi đến năm 2022.

Luật thuế mới của Mỹ có thể để lại cả ảnh hưởng tích cực và tiêu cực tới Hàn Quốc, cụ thể việc giảm thuế TNDN có thể sẽ thúc đẩy xu hướng các công ty, đặc biệt là các công ty công nghệ cao của Hàn Quốc đầu tư vào Mỹ. Tuy nhiên,  với việc Mỹ giảm thuế thu nhập, dự kiến sẽ thu hút các doanh nghiệp lớn vào Mỹ. Bên cạnh đó, xu hướng tăng thuế của Hàn Quốc cũng đối lập với xu hướng giảm thuế thu nhập doanh nghiệp của một số nước phát triển như Anh, Pháp và Nhật Bản. Đánh giá định lượng tác động từ mô hình NIGEM cho thấy dưới tác động của Luật thuế cải cách Mỹ, GDP của Hàn Quốc có thể chịu tác động tiêu cực, song ở mức độ nhẹ hơn và chỉ bắt đầu giảm với mức độ nhẹ, khoảng 0,05% từ năm 2020 và giảm tiếp ở mức 0,06% (khoảng 300 tỷ won) đến năm 2022, sau đó phục hồi trở lại trong dài hạn.

Đánh giá định lượng từ mô hình NIGEM cho thấy Luật thuế Mỹ có tác động tiêu cực khá rõ đối với nền kinh tế Trung Quốc so với các nước được nghiên cứu. Vốn đầu tư tích luỹ của Trung Quốc giảm nhẹ bắt đầu từ năm 2019, mức giảm có xu hướng tăng và kéo dài trong dài hạn, đỉnh điểm giảm thêm 0,8% vào năm 2026; -0,9% vào năm 2027. Đây có thể là lý do GDP của Trung Quốc bị tác động lớn hơn so với các nước khác bởi Luật thuế cải cách từ Mỹ, ở mức -0,2% từ năm 2021 và kéo dài trong dài hạn. Đầu tư của Mỹ vào Trung Quốc có thể phải chịu áp khá lớn khi Mỹ giảm thuế thu nhập doanh nghiệp bởi các chi phí liên quan đến thuế thực tế tại Trung Quốc cao nhất trong nhóm nước phát triển nếu tính cả đến các khoản mà doanh nghiệp Trung Quốc phải nộp cho quỹ hưu trí, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm liên quan đến việc làm, trợ cấp nhà ở… (World Bank, 2017). Bên cạnh đó, đồng USD tăng giá, đồng NDT giảm giá do tác động của Luật thuế có thể đang và sẽ làm dòng vốn dịch

Là một nền kinh tế nhỏ, và có độ mở lớn nên kinh tế Việt Nam ngày càng chịu những tác động sâu rộng hơn từ các biến động của nền kinh tế thế giới. Từ Từ các kết quả phân tích có thể thấy việc ban hành và thực hiện Luật thuế này sẽ có thể tác động trực tiếp đến đầu tư và thương mại của Việt Nam, nhưng tác động này được dự báo là không lớn. Ở một góc độ nào đó, luật thuế cải cách của Mỹ được ban hành vẫn có thể đem lại cơ hội cho đầu tư của Việt Nam khi các công ty của Mỹ được tăng năng lực vốn sẽ tăng đầu tư ra nước ngoài, cả trực tiếp và gián tiếp. Mặc dù vậy, để có thể đánh giá được tác động của chính sách thuế của Mỹ đối với các nước châu Á cũng như Việt Nam cần có thêm thời gian để xác định rõ ràng hơn.

Về thương mại, dưới tác động của Luật thuế mới của Mỹ, trong ngắn hạn, tăng trưởng và tiêu dùng của Mỹ có thể tăng do chính sách thúc đẩy tài khóa nhờ giảm thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp. Bên cạnh đó, xu hướng dòng vốn FDI quay trở lại Mỹ đầu tư cũng sẽ thúc đẩy nhu cầu nhập khẩu hàng hóa đầu vào từ các nước khác nhằm phục vụ cho các dự án đầu tư của Mỹ. Do vậy, Việt Nam có thể tận dụng cơ hội này để thúc đẩy xuất khẩu hàng tiêu dùng cũng như nghiên cứu nhu cầu nhập khẩu hàng hóa trung gian của Mỹ nhằm đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng mà Việt Nam có lợi thế.  Điều này một mặt tác động tích cực tới khả năng xuất khẩu của Việt Nam cũng như các nước khác vào Mỹ, nhưng mặt khác có thể khiến cho Mỹ tăng cường xu hướng bảo hộ thương mại hơn nữa.

Điều quan trọng là,việc thực hiện Luật thuế này là thời điểm buộc các nền kinh tế châu Á, trong đó có Việt Nam cần nhìn nhận lại và chú trọng việc cải thiện năng lực cạnh tranh của mình khi xu hướng giảm thuế của Mỹ có thể gây ra làn sóng giảm thuế hoặc các ưu đãi khác của một số nước, đặc biệt là các nước trong khu vực nhằm giữ doanh nghiệp Mỹ ở lại, từ đó làm cho sức cạnh tranh của môi trường đầu tư của Việt Nam bị giảm đi tương đối.

Trên cơ sở các kết luận trên, một số hàm ý chính sách được Nhóm nghiên cứu rút ra:

  • Tiếp tục theo dõi sát sao phản ứng chính sách của các nước trên thế giới sau khi Mỹ thực hiện Luật cải cách thuế mới, đánh giá tác động đến Việt Nam để kịp thời có phản ứng thích hợp;
  • Rà soát số liệu tái đầu tư vốn của các doanh nghiệp Mỹ tại Việt Nam trong thời gian qua và nắm tình hình đầu tư của các doanh nghiệp này, khi cần có thể chuẩn bị linh hoạt các chính sách ứng phó, chẳng hạn như chính sách khuyến khích tái đầu tư như Trung Quốc đã làm.
  •  Huy động mọi nguồn lực đẩy nhanh quá trình thực hiện chiến lược phát triển đất nước, chú trọng đặc biệt đến việc tăng cường sức cạnh tranh, thu hẹp khoảng cách về năng suất lao động.
  • Tạo được một môi trường đầu tư minh bạch hơn nữa, hoàn thiện thể chế, cung cấp nhiều sản phẩm đầu tư hấp dẫn và bảo đảm được quyền tài sản của các nhà đầu tư để tận dụng cơ hội thu hút đầu tư từ Mỹ
  • Về mặt tài chính tiền tệ, cần áp dụng biện pháp kiểm soát ngoại tệ nhằm đề phòng hiện tượng thoái vốn, chuyển vốn các nhà đầu tư nước ngoài ra khỏi Việt Nam.Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước cũng cần có những chuẩn bị về chính sách để ứng phó với xu hướng đồng USD tăng giá, và chính sách bảo hộ thương mại của Mỹ có xu hướng gia tăng.

     Tài liệu tham khảo:

  1. Alexander Lee và cộng sự (2018), “US Tax Reform Imlications from a Chinese Perspective”, Công ty luật quốc tế MWE, truy cập 12/5/2018;
  2. Australian Government’s Treasury (2017), US Corporate Tax Reform: Implications for the rest of the world, tháng 11/2017.
  3. CBO(2017),https://www.cbo.gov/system/files/115th-congress-2017-2018/costestimate/53415-hr1conferenceagreement.pdf;
  4. Christoph Spengel và cộng sự (2017),  Analysis of US Corporate Tax Reform Proposals and their Effects for Europe and Germany, tháng 12/2017.
  5. David Floyd (2018), “Trump’s Tax Reform Plan”, https://www.investopedia.com/news/trumps-tax-reform-what-can-be-done/;
  6. KPMG (2018), Tax reform – KPMG Report on New Tax Law;
  7. Keith Hall  (2017)  [https://www.cbo.gov/system/files/115th-congress-2017-2018/costestimate/53415-hr1conferenceagreement.pdf];
  8. KIEP (3/2018), “U.S. Tax Reform and Its Implications for Korea”;
  9. Ernst and Young  (2018), “US tax reform”;
  10.  Fuest và cộng sự, (2005), “Capital mobility and tax competition”, Foundations and Trends in Microeconomics 1(1): 1-62.
  11. Sumitomo Mitsui Banking Corporation (1/2018), “Impact of U.S. Tax Reform on Japanese Corporations”;
  12. Tax Foundation, Special Report, số 241, 12/2017;
  13. Ursel Baumann và Allan Gloe Dizioli (2018), “The macroeconomic impact of US tax reform”, ECB Economic Bulletin, Issue 1 / 2018.
  14. UNCTAD (2018), World Investment Report, tháng 6/2018.

[1] Số liệu của Cục đầu tư nước ngoài                   

[2] Nguồn: “Chất lượng nguồn nhân lực và vấn đề nâng cao năng suất lao động của Việt Nam”, PGS. TS Nguyễn Lan Hương (2017)

Trích nguồn:
Tác giả:
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202