Tin Kinh tế- xã hội  > Kinh tế thế giới > Mỹ

Luật thuế cải cách Mỹ và một số nội dung chính

Cập nhật lúc: 10/12/2018 11:00:00 AM

Trong suốt ba thập kỷ qua, hệ thống thuế của Mỹ chưa từng trải qua một cuộc cải cách toàn diện nào. Luật thuế gần đây nhất được Mỹ thông qua là vào năm 1986. Kế hoạch cải cách thuế của Mỹ và việc bãi bỏ hay giảm những quy định trói buộc kinh doanh dưới thời Tổng thống Obama là một trong hai trụ cột chính trong chiến lược tạo thêm việc làm và giúp tăng tốc nền kinh tế  đã được ông Donald Trump hứa hẹn khi tranh cử. Tổng thống Trump nêu ra bốn nguyên tắc cơ bản cho chương trình cải cách thuế: một bộ Luật thuế đơn giản và dễ hiểu; một bộ Luật thuế có tính cạnh tranh toàn cầu; cơ chế giảm thuế cho các gia đình trung lưu và các công ty Mỹ hoạt động tại nước ngoài mang trở về nước hàng nghìn tỷ USD. Do đó, kế hoạch cải cách thuế lần này là kết quả của nhiều tháng đàm phán giữa Donald Trump và các thủ lĩnh Cộng hòa trong Quốc hội, được Tổng thống Trump coi là “cuộc cải cách thuế lớn nhất trong lịch sử Mỹ” và là “đợt giảm thuế lịch sử đối với người Mỹ”.

Sau khi các nghị sĩ thuộc hai viện Quốc hội Mỹ cùng nhau bàn thảo để thống nhất, ngày 19/12/2017, Dự luật cải cách thuế được Hạ viện Mỹ thông qua với tỷ lệ bỏ phiếu 227 – 203, sau đó dự luật được chuyển lên Thượng viện. Với tỷ lệ 51 – 43, Thượng viện đã thông qua kế hoạch cải cách thuế, tuy nhiên xóa bỏ 3 điều khoản. Do đó, dự luật này phải chuyển về Hạ viện để bỏ phiếu lần hai. Ngày  20/12/2017, Dự luật cải cách thuế được Hạ viện Mỹ chính thức thông qua sau cùng với tỷ lệ bỏ phiếu 224 – 201.

Những điểm chính của Luật thuế bao gồm: điều chỉnh cắt giảm thuế cho các công ty lớn và người có thu nhập cao cũng như những khoản cắt giảm thuế tạm thời cho một số cá nhân và gia đình; sửa đổi cách tính thuế với các công ty đa quốc gia, cụ thể như sau:

-Đối với thuế thu nhập cá nhân:

+ Luật Thuế mới duy trì cơ cấu khung thuế thu nhập cá nhân hiện tại với 7 mức, tuy nhiên điều chỉnh giảm ở 5/7 mức: mức thuế cao nhất giảm từ 39.6% xuống 37%; mức 33% giảm còn 32%; 28% xuống còn 24%, 25% đến 22%, và 15% đến 12%.  Mức thuế 10% và 35% được giữ nguyên. Theo báo cáo của Trung tâm Chính sách thuế (TPC) công bố ngày 18/1/2017, dự luật này dự kiến sẽ tăng thu nhập sau thuế của 80,4% số hộ gia đình vào năm 2018.

+ Thay đổi mức khấu trừ tiêu chuẩn (standard deduction): Mức khấu trừ tiêu chuẩn theo Luật thuế cũ dành cho cá nhân độc thân là $6.350; dành cho các cặp vợ chồng khai chung là $12.700. Luật thuế mới cho phép khai gấp đôi mức khấu trừ tiêu chuẩn, cụ thể cá nhân độc thân hoặc vợ chồng khai riêng được khai khoản này lên đến $12.000; các cặp vợ chồng khai chung được tăng lên $24.000.

+ Loại bỏ các khoản giảm trừ cá nhân – personal exemption: Luật cũ cho phép được giảm trừ $4.150 trên mỗi người nộp thuế và người phụ thuộc.

+ Giảm mức Thuế tối thiểu thay thế - Alternative Minimum Tax (AMT)[1]: (1) đối với cặp vợ chồng trả thuế chung, quy định tăng mức miễn giảm thu nhập từ $84.500 lên $109.500; (2) $54.700 với cặp vợ chồng chi trả riêng biệt thay vì $43.100; (3) $70.300 cho cá nhân độc thân, từ mức $54.300 theo quy định của Luật thuế hiện tại.

+ Sử dụng chỉ số “chained CPI” để chỉ số hóa các khung thuế thay vì sử dụng CPI như hiện tại. “Chained CPI” là phương pháp tính CPI theo hướng linh động hơn do người tiêu dùng thường có xu hướng thay đổi hành vi mua hàng khi giá cả hàng hóa thay đổi. Chỉ số này được điều chỉnh thông qua hàng hóa thay thế.

+ Tăng khoản giảm trừ thuế cho người nuôi con – child tax credit[2]:  mức giảm trừ được tăng từ $1.000 lên $2.000 cho mỗi trẻ em dưới 17 tuổi. Luật thuế cũng quy định tăng ngưỡng thu nhập gộp được điều chỉnh (AGI)[3] lên $200.000 cho cá nhân độc thân từ mức $75.000 hiện nay; đối với cặp vợ chồng là $400.000 từ mức $110.000. Người đóng thuế phải cung cấp số an sinh xã hội (SSN) cho các đối tượng hưởng khoản giảm trừ này trên tờ khai thuế

+ Tạo ra khoản giảm trừ cho các đối tượng phụ thuộc khác ngoài con: Dự luật cho phép người nộp thuế được nhận mức giảm trừ $500 cho người phụ thuộc khác ngoài con, chẳng hạn cha mẹ già yếu, người lớn khuyết tật,…

+ Duy trì phần lớn các khoản giảm trừ hiện tại đối với các vấn đề liên quan đến giáo dục.

+ Loại bỏ việc bắt buộc mua bảo hiểm y tế: không bị phạt nếu không mua bảo hiểm. Biện pháp này giúp giảm chi tiêu của chính phủ liên bang cho trợ cấp bảo hiểm và Medicare.

-Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp:

+ Mức thuế suất cao nhất áp dụng cho doanh nghiệp là 21% bắt đầu vào năm 2018 (giảm xuống từ mức cao nhất 35%).

+ Khoản khấu trừ lãi suất bị giới hạn ở mức 30% trên thu nhập chịu thuế: Trước năm 2018, khoản khấu trừ này không có giới hạn, với dự luật cải cách thuế, khoản khấu trừ lãi suất bị giới hạn ở mức 30% trên thu nhập trước thuế, trả lãi và khấu hao (EBITDA). Sau 4 năm, mức giới hạn này sẽ áp dụng cho thu nhập trước lãi vay và thuế (EBIT[4]);

+ Bãi bỏ thuế tối thiểu thay thế (AMT): Thuế tối thiểu thay thế AMT sẽ được hoàn 50% mỗi năm bắt đầu từ năm 2018, đến năm 2021 được hoàn lại 100%;

+ Giảm gánh nặng thuế đối với các doanh nghiệp “pass – through”[5]: Các doanh nghiệp thuộc loại này khi trả thuế thu nhập doanh nghiệp thông qua các tờ khai thuế cá nhân riêng lẻ sẽ được giảm 20%. Việc khấu trừ 20% này không áp dụng đối với đối tượng thuộc nhóm kinh doanh dịch vụ nếu thu nhập chịu thuế của họ trên $315.000 đối với vợ chông khai chung và $157.000 đối với cá nhân;

+ Giới hạn việc khấu trừ các khoản lỗ ở mức 80% thu nhập chịu thuế .

+ Mức giảm trừ thuế đối với hoạt động R&D được duy trì.

-Thuế với công ty quốc tế:

+ Luật cải cách thuế mới ban hành thêm Điều 965 nhằm thay đổi cơ bản việc đánh thuế đối với các công ty đa quốc gia - chuyển từ hệ thống thuế thế giới hiện nay (theo đó các công ty Mỹ phải chịu thuế về tất cả lợi nhuận của họ, bất kể thu nhập từ đâu, song có thể trì hoãn trong 8 năm) sang hệ thống thuế lãnh thổ (không thể trì hoãn nộp thuế về khoản thu nhập kiếm được ở nước ngoài)

+ Luật thuế ngăn chặn các công ty có lợi nhuận nước ngoài lạm dụng việc phân bổ lại chi phí, chuyển thu nhập trên báo cáo cân đối tài sản sang các quốc gia có mức thuế thấp hơn. Trước đây, các doanh nghiệp Hoa Kỳ có thể trì hoãn trả 35% thuế đối với thu nhập chuyển về bằng cách giữ lợi nhuận  ở nước ngoài. Luật thuế mới yêu cầu đối với khoản thu nhập nước ngoài đang có hiện tại được nắm giữ dưới dạng tiền mặt và tài sản có tính thanh khoản sẽ bị đánh thuế là 15,5% và 8% đối với các khoản thu nhập không có tính thanh khoản. Người đóng thuế có thể lựa chọn thanh toán trong thời gian 8 năm (hồ sơ kết thúc). Đối tượng chịu thuế ở đây là tập đoàn CFC (controlled foreign corporation) – tập đoàn Hoa Kỳ hoạt động ở nước ngoài trong đó các cổ đông Mỹ có hơn 50% quyền kiểm soát công ty đó hoặc sở hữu hơn 50% cổ phần trong tập đoàn; hoặc bất kỳ tập đoàn nước ngoài có cổ đông là người Mỹ, sở hữu tối thiểu 10% cổ phần trong tập đoàn;

+ Áp dụng chống xói mòn thuế và chống lạm dụng thuế (BEAT)[6]:  Mức thuế này được quy định năm 2018 là 5% thu nhập chịu thuế của người nộp thuế, cùng với số tiền trợ cấp xói mòn cơ bản (MTI) và 6% đối với ngân hàng và người buôn bán; từ năm 2019 đến 2025 là 10% MTI và 11% đối với ngân hàng và người buôn bán.

+ Luật cải cách mới ban hành thêm điều luật liên quan đến thu nhập từ GILTI[7] và FDII [8]: Sau khi khấu trừ 50%, công ty có thu nhập từ GILTI phải chịu thuế suất thuế doanh nghiệp hiệu quả - effective tax rate-  là 10,5%, bằng một nửa thuế doanh nghiệp thông thường là 21%. Cũng giống như GILTI, sau khi khấu trừ 37,5%, công ty có thu nhập từ FDII phải chịu thuế suất thuế doanh nghiệp hiệu quả là 13,125%.  Mục đích đưa ra các điều khoản liên quan đến thu nhập GILTI và FDII để ngăn cản các tập đoàn Mỹ chuyển các tài sản vô hình có năng suất cao như quyền sở hữu trí tuệ sang các khu vực pháp lý thuế thấp.

Theo yêu cầu của Luật thuế mới, các điều khoản cho thuế cá nhân sẽ hết hiệu lực vào cuối năm 2025, nhưng hầu hết các điều khoản cho các công ty sẽ có hiệu lực vĩnh viễn.

Nguồn: Tax Foundation, Special Report, số 241, 12/2017; CBO(2017),https://www.cbo.gov/system/files/115th-congress-2017-2018/costestimate/53415-hr1conferenceagreement.pdf

 


[1] Công cụ làm giảm việc tránh thuế bằng cách thu thêm một khoản thuế hợp lý đối với các cá nhân, doanh nghiệp có thu nhập cao

 

[2] Tax credit: một phần tiền thuế được nộp trong tổng thuế phải đóng và là phúc lợi do nhà nước trả cho người lao động thông qua hệ thống thuế nhằm giúp tăng thêm thu nhập ròng. Đối tượng được hưởng mức giảm trừ này được trực tiếp giảm số tiền trong tổng thuế phải  đóng.

[3]  Thu nhập gộp điều chỉnh – AGI (Adjusted gross income): là một thuật ngữ thuế của Mỹ , được sử dụng trong tính toán nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân. AGI là tổng thu nhập được điều chỉnh theo các khoản chiết khấu cho phép. AGI là số cuối cùng trong trang đầu của bản 1040, bản kê khai thuế của Mỹ dành cho cá nhân.

[4] EBIT (earnings before interest and taxes): thu nhập trước lãi vay và thuế. Là một chỉ tiêu dùng để đánh giá khả năng thu được lợi nhuận của công ty, bằng thu nhập trừ đi chi phí không bao gồm lãi và thuế thu nhập.

[5] Doanh nghiệp “pass- through” về cơ bản là một doanh nghiệp không phải trả thuế thu nhâp doanh nghiệp. Thay vào đó, tất cả lợi tức hoặc thu lỗ sẽ được chuyển tới (passed through) tới chủ doanh nghiệp, các đối tác, cổ đông. Sau đó họ sẽ trả thuế thông qua tớ khai thuế cá nhân của họ mỗi năm. Các đối tượng gồm công ty tư nhân, công ty hợp danh, công ty cá thể,  doanh nghiệp loại S (nằm trong doanh nghiệp quy mô nhỏ), các công ty con “LLCs”(Limited Liability Companies)

 

[6] Xói mòn thuế và chống lạm dụng thuế (Base Erosion and Anti – Abuse Tax – BEAT): Áp dụng cho một số khoản thanh toán được khấu trừ cụ thể phát sinh cho chi nhánh nước ngoài, ví dụ như tiền bản quyền, phí quản lý (không bao gồm chi phí bán hàng). BEAT áp dụng cho các tập đoàn có tổng doanh thu  trung bình 3 năm là 500 triệu đô, tỷ lệ xói mòn cơ bản là 2% đối với ngân hàng và đại lý chứng khoản và 3% với các đối tượng còn lại

 

[7] Global Intangible Low –Taxed Income (GILTI): được định nghĩa là một phần thu nhập của công ty nước ngoài thuộc sở hữu của các cổ đông Mỹ, vượt quá 10% lãi suất đặc biệt – tỷ lệ phản ánh tỷ lệ hoàn vốn bình thường đối với tài sản vô hình.

[8] Foreign – Derived Intangilble Income (FDII): được định nghĩa là phần thu nhập có được khi hoạt động ở nước ngoài. Thu nhập này tạo ra khi bán tài sản hoặc cung cấp dịch vụ cho đối tượng không phải là người Mỹ.

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Trần Thị Thu Hà (Nghiên cứu viên chính, Ban KTTG)
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202