Tin Kinh tế- xã hội  > Kinh tế thế giới > Mỹ

Đánh giá tác động của Luật Thuế cải cách của Mỹ

Cập nhật lúc: 07/12/2018 09:00:00 AM

Kế hoạch cải cách thuế hay “Đạo luật việc làm và cắt giảm thuế” của Tổng thống Donald Trump là một trong những trụ cột chính trong chiến lược tạo thêm việc làm và giúp tăng tốc nền kinh tế Mỹ đã được thông qua ngày 20/12/2017.  Luật Thuế mới bao gồm một số nội dung quan trọng như giảm thuế doanh nghiệp từ 35% xuống còn 21%, giảm thuế thu nhập cá nhân cho những người có thu nhập trên 500.000 USD từ gần 40% xuống còn 37%. Dự luật cũng sẽ hủy bỏ một phần Đạo luật Chăm sóc y tế giá rẻ (Obamacare) và tăng mức nợ liên bang lên gần 1.500 tỷ USD trong thập niên tới.

Luật thuế được dự tính không chỉ có tác động lớn tới nhiều khía cạnh của kinh tế xã hội Mỹ mà còn gây ra những tác động trực tiếp và gián tiếp tới các nền kinh tế khác, trong đó đặc biệt là những đối tác thương mại, đầu tư quan trọng của Mỹ. Tài liệu này sử dụng Mô hình kinh tế lượng toàn cầu Nigem phân tích những các tác động chính của cải cách Luật thuế Mỹ đến một số nền kinh tế lớn trên thế giới

Các kênh tác động

Về mặt lý thuyết, Luật cải cách thuế tại Mỹ sẽ tác động đến nền kinh tế Mỹ và các nước khác trên thế giới theo các kênh tác động sau:

Thứ nhất, giảm thuế thu nhập cá nhân theo Luật thuế của Mỹ sẽ:

  1. Tác động đến hành vi của cá nhân và doanh nghiệp Mỹ thông qua tác động thu nhập và tác động thay thế, từ đó gây ra tác động tiêu cực và tích cực đến quy mô nền kinh tế (Gale G. và Samwick A., 2016);
  2. Tác động đến tiêu dùng nội địa Mỹ. Đối với tiêu dùng tư nhân, việc giảm thuế thu nhập cá nhân sẽ làm tăng tiêu dùng tư nhân, đối với tiêu dùng chính phủ, cắt giảm thuế thu nhập cá nhân và thu nhập chính phủ sẽ dẫn đến giảm nguồn thu thuế. Do vậy, trong ngắn hạn khi việc giảm thuế chưa dẫn đến những tác động kích thích kinh tế để bù đắp lại nguồn thuế giảm, tiêu dùng chính phủ có thể sẽ giảm do thu ngân sách giảm.

Thứ hai, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ có tác động sâu rộng không chỉ tới kinh tế Mỹ mà cả các nền kinh tế khác trên thế giới, do đầu tư của các công ty Mỹ ở nước ngoài rất lớn và do Mỹ là đối tác thương mại lớn của nhiều quốc gia trên thế giới. Cụ thể, việc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp tại Mỹ sẽ có tác động tới:

  1. Đầu tư tư nhân: Khi thuế thu nhập giảm, chi phí sử dụng vốn giảm sẽ giúp tăng lợi nhuận kỳ vọng của các nhà đầu tư, do vậy tạo động lực để kích thích đầu tư tư nhân (Fuest và cộng sự, 2005);
  2.  Ngân sách của Mỹ: Việc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ có hai tác động trái chiều tới ngân sách:  Một là, trong ngắn hạn, ngân sách có thể sẽ giảm do thu ngân sách từ thuế thu nhập doanh nghiệp giảm, và hai là trong dài hạn, ngân sách có thể sẽ tăng do tăng năng suất doanh nghiệp và quy mô của nền kinh tế do kích thích đầu tư;
  3. Cơ cấu kinh tế của Mỹ: Giảm thuế thu nhập doanh nghiệp giúp giảm những méo mó do thuế gây ra và tạo ra sự dịch chuyển về cơ cấu của các hoạt động kinh tế theo hướng nâng cao hiệu quả (ngay cả khi mức độ hoạt động kinh tế không thay đổi) và thu hẹp những ngành hiện được ưu đãi thuế, như ngành y tế và nhà ở. Do vậy, tăng trưởng kinh tế  Mỹ có thể được cải thiện nhờ sự dịch chuyển này; (iv) Thương mại quốc tế. Kinh tế Mỹ tăng tốc nhờ giảm thuế có thể tác động tích cực tới thương mại thế giới do làm tăng nhu cầu nhập khẩu hàng hóa tiêu dùng và đầu tư từ nước ngoài (Australian Government’s Treasury, 11/2017).

Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở tác động về mặt lý thuyết, từ số liệu của Văn phòng ngân sách quốc hội Mỹ (CBO)[1] trong năm tài khoá 2018-2019, tác giả đã tính toán mức thay đổi nguồn thu ngân sách Mỹ từ thuế thu nhập cá nhân, doanh nghiệp và thuế quốc tế sau khi áp dụng Luật cải cách thuế (Biểu đồ 1), từ đó, sử dụng mô hình kinh tế lượng toàn cầu NIGEM đánh giá tác động của Luật thuế đến kinh tế Mỹ và kinh tế các nước.

Biểu đồ 1: Thay đổi tổng thu của một số loại thuế

Nguồn: Tính toán của tác giả dựa vào số liệu ước tính của CBO[1]

Đánh giá tác động tới kinh tế Mỹ

Luật thuế mới được Tổng thống Donald Trump đề xuất nhằm kích thích tăng trưởng GDP, tạo ra nhiều việc làm hơn cho Mỹ dựa trên kỳ vọng kinh tế sẽ bùng nổ mạnh mẽ vì chi tiêu đầu tư kinh doanh và cá nhân. Dưới đây là một số ảnh hưởng cụ thể của việc giảm thuế tới kinh tế Mỹ.

Ảnh hưởng tới tăng trưởng, tích lũy vốn, tiền lương và việc làm

Do bản chất của cải cách thuế tại Mỹ là kích thích tài khóa (giảm thuế), nên tác động trước tiên đối với kinh tế Mỹ sẽ là tác động kích thích tài khóa… Thuế thu nhập cá nhân giảm sẽ giúp tăng thu nhập khả dụng của hộ gia đình và nhờ đó thúc đẩy tiêu dùng, đặc biệt là các hộ gia đình có hạn chế về khả năng thanh khoản. Một phần của mức tăng thu nhập sau thuế cũng sẽ dẫn tới tăng tiết kiệm. Cuối cùng, cắt giảm thuế thu nhập doanh nghiệp và việc cho phép khấu trừ ngay khấu hao tài sản đầu tư cho 5 năm sẽ giúp giảm chi phí đầu tư sau thuế, từ đó tăng nhu cầu của doanh nghiệp do động lực kích thích đầu tư tăng.

Về dài hạn, tăng trưởng kinh tế cũng được thúc đẩy do năng lực sản xuất tăng và cung lao động tăng (do người lao động có động lực lớn hơn để quay lại thị trường lao động). Thuế thu nhập cá nhân giảm sẽ tạo động lực kích thích người lao động tham gia vào thị trường lao động do thu nhập sau thuế tăng. Hơn nữa, việc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp và cho phép khấu trừ ngay khấu hao tài sản đầu tư cũng sẽ thúc đẩy tăng hoạt động đầu tư và tích lũy vốn của nền kinh tế. Tích lũy vốn tăng sẽ giúp tăng sản lượng tiềm năng và thúc đẩy tăng năng suất lao động. Bên cạnh đó, việc đơn giản hóa luật thuế và loại bỏ những méo mó do thuế tạo ra đối với chiến lược vốn của công ty cũng sẽ giúp tăng năng suất nhờ tái phân bổ vốn đầu tư vào những lĩnh vực hiệu quả hơn. Theo ước tính của Tax Foundation (2017)[1], việc cắt giảm thuế trong dài hạn sẽ giúp GDP của Mỹ tăng 1,7% GDP . Nền kinh tế được mở rộng sẽ dẫn tới tiền lương cao hơn 1,5%, việc làm tăng thêm 339.000 và tích lũy vốn tăng 4,8%. Kinh tế tăng trưởng và mức lương cao hơn chủ yếu là do chi phí vốn thấp hơn đáng kể, làm giảm thuế thu nhập doanh nghiệp và đẩy nhanh tốc độ chi khấu hao vốn cho các tài sản có vòng đời ngắn.

Biểu đồ 2: Tác động dài hạn (tích luỹ cho giai đoạn 2018-2027) của Luật thuế đối với kinh tế Mỹ

Nguồn: Tax Foundation Taxes and Growth Model, tháng 11/2017.

Các nghiên cứu cũng đã chỉ ra thời gian kéo dài của những tác động này. Tax Foundation (2017) chỉ ra tác động tới tăng trưởng GDP không phải theo đường thẳng. Năm 2018, năm đầu tiên của chương trình cải cách thuế, tăng trưởng dự kiến sẽ tăng thêm 0,44% so với không có cải cách thuế. Tuy nhiên, sự tăng tốc về tăng trưởng trong giai đoạn 10 năm đầu giảm xuống trong giai đoạn sau đó và dần xuống dưới mức kịch bản cơ sở do tính chất tạm thời của nhiều điều khoản mà luật quy định. Baumann và Dizioli (2018) cũng cho rằng tác động lớn nhất của Luật thuế đối với thu ngân sách sẽ diễn ra trong giai đoạn từ nay đến 2025, chủ yếu do phần lớn các điều khoản liên quan đến thuế thu nhập cá nhân sẽ hết hạn sau năm 2025. Tác động về thu ngân sách do giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cũng sẽ giảm theo thời gian, một phần do ưu đãi về khấu hao tài sản đầu tư sẽ hết dần.

Biểu đồ 3 : So sánh mức tăng trưởng theo kịch bản cơ sở và kịch bản cải cách thuế

 Nguồn: Tax Foundation

Kết quả mô phỏng định lượng cú sốc thay đổi ngân sách từ các nguồn thu thuế của Mỹ sau khi áp dụng Luật thuế mới từ mô hình NIGEM đã cho thấy sự phù hợp hoàn toàn so với về cơ chế tác động về lý thuyết cũng như các kết quả từ các nghiên cứu thực nghiệm trước đó. Tác động giảm thuế đã kích thích vốn đầu tư tích luỹ của Mỹ tăng trong ngắn hạn, cụ thể, tăng nhẹ ở mức 0,1% năm 2018; 0,6% năm 2019; và cao nhất vào năm 2020 (1%), sau đó giảm dần trong trung và dài hạn so với  phương án cơ sở. Bên cạnh đó, việc đơn giản hóa luật thuế và loại bỏ những méo mó do thuế tạo ra đối với chiến lược vốn của công ty cũng sẽ giúp tăng năng suất nhờ tái phân bổ vốn đầu tư vào những lĩnh vực hiệu quả hơn, từ đó thúc đẩy tăng trưởng GDP. Dưới tác động của Luật thuế mới của Mỹ, GDP của Mỹ tăng trưởng thêm 0.6% năm 2018, và tăng tốc thêm 1% năm 2019 so với kịch bản gốc. Tuy nhiên, sự tăng tốc về tăng trưởng trong giai đoạn đầu của thập kỷ sẽ giảm xuống trong giai đoạn sau đó và dần xuống dưới mức kịch bản cơ sở do tính chất tạm thời của nhiều điều khoản mà Luật thuế quy định. Lương danh nghĩa và số việc làm của Mỹ tăng trong ngắn hạn (khoảng 4 năm sau khi thực hiện cú sốc) sau đó giảm trong dài hạn. Cụ thể, lương danh nghĩa tăng thêm 0.2% năm 2018; 0.8 % năm 2019; 0,7% năm 2020 và sau đó giảm xuống dưới mức cơ sở trong những năm tiếp theo. Số việc làm tăng lên hơn 314 ngàn vào năm 2018, đặc biệt tăng cao vào năm 2019 ở mức 967 ngàn và giảm trong các năm sau đó.

Bảng : Tác động của Luật thuế đến tăng trưởng kinh tế Mỹ

(% thay đổi so với  kịch bản gốc)


Nguồn: Tính toán của tác giả dựa trên mô hình Nigem

Ảnh hưởng đối với ngân sách liên bang

Các tính toán dựa trên nghiên cứu định lượng gần đây của một số cơ quan nghiên cứu cho thấy, doanh thu từ thuế của Mỹ sẽ giảm trong ngắn hạn do giảm thuế, do vậy ảnh hưởng tới ngân sách. Nghiên cứu của CBO và JCT (2017)[1] cho rằng việc ban hành Luật thuế mới sẽ làm giảm thu ngân sách khoảng 1649 tỷ USD và giảm chi tiêu Chính phủ khoảng 194 tỷ USD trong giai đoạn 2018-2027. Do đó, Luật thuế này có thể sẽ làm tăng thâm hụt ngân sách Mỹ thêm 1,455 nghìn tỷ trong 10 năm tới, không tính tới các tác động về kinh tế vĩ mô. Tax Foundation (2017)[2] chỉ ra tác động tiêu cực tới thu ngân sách của Mỹ: Theo mô hình tĩnh (chỉ so sánh có hay không có Luật thuế mới), Luật thuế mới sẽ làm giảm mức thu ngân sách liên bang xuống 1,47 nghìn tỷ USD. Theo mô hình động, Luật thuế mới này sẽ tạo thêm nguồn thu 600 tỷ USD trong 10 năm tiếp theo, do vậy giúp giảm thiệt hại do thất thu từ thuế. Nền kinh tế được mở rộng sẽ dẫn tới tăng tiền lương và do đó mở rộng cơ sở tính thuế thu nhập và tiền lương. Nhờ đó, chính phủ liên bang sẽ phải chịu khoản thất thu thuế thu nhập cá nhân ở mức nhỏ hơn 494 tỷ USD. Việc cắt giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cũng sẽ khiến thất thu ngân sách từ thuế giảm xuống mức 565 tỷ USD. Thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp trong ngắn hạn cao chủ yếu do điều khoản quy định về chi khấu hao ngay đối với các tài sản có vòng đời ngắn. Điều khoản này nhằm khuyến khích tăng đầu tư vào giúp các doanh nghiệp thực hiện khấu hao vốn lớn hơn trong năm năm đầu của kế hoạch cải cách thuế. Nghiên cứu của Tax Foundation cũng cho thấy, đến năm 2024, mức thu ngân sách từ thuế nhờ cải cách thuế sẽ lớn hơn mức thu thuế theo kịch bản cơ sở. Vào năm 2026, doanh thu thuế sẽ lớn hơn so với kịch bản cơ sở, chủ yếu do nhiều điều khoản cụ thể sẽ hết hạn.

Kết quả đánh giá định lượng từ mô hình NIGEM cũng cho thấy sự phù hợp với kết quả của các nghiên cứu trên. Cụ thể, thâm hụt ngân sách chính phủ Mỹ tăng mạnh trong 6 năm sau khi thực hiện Luật thuế so với phương án không thực hiện cú sốc:125,9 tỷ USD năm 2018, 288,7 tỷ USD năm 2019; 359 tỷ USD năm 2030 và đỉnh điểm ở mức 481,1 tỷ USD năm2023 và giảm dần nhẹ trong các năm sau đó.

Biểu đồ 4: Tác động với ngân sách Mỹ

Nguồn: Tính toán của tác giả dựa trên mô hình Nigem

Xu hướng dòng vốn đầu tư quay trở lại Mỹ

Các công ty Mỹ đã giữ một lượng tiền rất lớn dưới dạng lợi nhuận nước ngoài ở các nước khác để tránh khoản thuế thu nhập doanh nghiệp rất lớn của Mỹ. UNCTAD (2/2018) ước tính giá trị lợi nhuận mà các công ty đa quốc gia Mỹ giữ lại ở nước ngoài hiện lên tới 3,2 nghìn tỉ USD.Tập đoàn tư vấn tiêu dùng Public Interest Research Group đã xác định có khoảng 50 “thiên đường” thuế trên thế giới hiện nay, từ Bermuda và Cayman Islands – là những nơi có nhiều thủ thuật về bảng cân đối tài sản - cho tới những nước có mức thuế rất thấp để thu hút kinh doanh như Ireland và Singapore. Báo cáo này cũng cho thấy có gần ba phần tư trong số các công ty niêm yết theo chỉ số chứng khoán Fortune 500 có các chi nhánh hoạt động tại các “thiên đường” thuế. Các công ty công nghệ của Mỹ giữ nhiều tiền ở nước ngoài nhất. Apple giữ khoảng 180 tỷ USD ở nước ngoài, General Electric khoảng 119 tỉ USD, và Microsoft giữ khoảng 108 tỉ USD.

Kế hoạch cắt giảm thuế mới của Tổng thống Donald Trump (đặc biệt là việc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp từ 35% hiện nay xuống còn 21%, đánh thuế 15,5% đối với hoạt động chuyển tiền về nước của các công ty Mỹ hoạt động ở nước ngoài) có thể dẫn đến làn sóng rút vốn lớn từ nước ngoài để quay trở lại Mỹ, do mức thuế thu nhập doanh nghiệp giảm mạnh khiến cho hoạt động đầu tư tại Mỹ sinh lời nhiều hơn. Trước khi giảm thuế, mức thuế thu nhập doanh nghiệp tại Mỹ cao hơn phần lớn các nước OECD khác. Tuy nhiên, sau khi giảm thuế, mức thuế suất tại Mỹ sẽ ngang bằng phần lớn các nước OECD khác. UNCTAD (2/2018) ước tính sẽ có khoảng 2 nghìn tỉ USD (hai phần ba) lợi nhuận của các công ty đa quốc gia Mỹ ở nước ngoài được chuyển về nước do tác động của Luật thuế mới. Các hãng công nghệ với giá trị lợi nhuận khổng lồ giữ ở nước ngoài sẽ được hưởng lợi nhiều nhất từ chính sách này. Financial Times ước tính rằng Luật thuế mới có thể giúp Apple ngay lập tức tiết kiệm được 47 tỉ USD nếu chuyển lợi nhuận về nước. Theo tính toán của Goldman Sachs, các công ty S&P 500 đang giữ khoảng 920 tỉ USD  ở nước ngoài, và khoảng 250 tỉ USD có thể quay trở lại Mỹ do Luật thuế mới.

Biểu đồ 5: So sánh mức thuế thu nhập doanh nghiệp của một số nước (Đơn vị: %)

 

 Nguồn: OECD và tính toán của ECB.

Tác động tới tăng trưởng, thương mại thế giới và kinh tế của một số nền kinh tế chủ chốt

Luật cải cách thuế mới của Mỹ sẽ tác động tích cực tăng trưởng kinh tế thế giới trong ngắn hạn do kinh tế Mỹ được kích thích nhờ các biện pháp nới lỏng tài khóa (giảm thuế), từ đó kéo theo tăng trưởng kinh tế của các nước đối tác và kinh tế thế giới, do Mỹ là nền kinh tế lớn nhất thế giới. IMF (7/2018) cho rằng kinh tế thế giới sẽ tăng trưởng 3,9% trong năm 2018 và 2019, cao hơn 0,2 điểm % so với dự báo đưa ra vào tháng 10/2017 do động lực tăng trưởng mới từ Mỹ. Tuy nhiên, tác động này sẽ giảm trong dài hạn do thâm hụt ngân sách tác động tiêu cực tới tăng trưởng. Hơn nữa, các điều khoản ưu đãi thuế thu nhập cá nhân sẽ hết hạn vào năm 2025, do vậy quy mô của gói kích thích tài khóa sẽ giảm dần. Đánh giá định lượng từ mô hình NIGEM cho thấy, tăng trưởng GDP của thế giới năm 2018 tăng thêm 0,03%, năm 2019 (0,07%). Tuy nhiên, tác động tích cực của Luật thuế đối với tăng trưởng GDP của thế giới sẽ giảm từ năm 2021, cụ thể tăng trưởng GDP thế giới sẽ giảm ở mức -0,03% vào năm 2021 và giảm tiếp ở những năm tiếp theo[1].

Mặc dù có tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế thế giới, chính sách cải cách thuế của Mỹ lại có thể gây ra những tác động tiêu cực tới tăng trưởng thương mại thế giới. Việc giảm mạnh thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân sẽ khiến cho nguồn thu thuế của Mỹ giảm. Để bù đắp sự sụt giảm này, Mỹ sẽ tìm cách tăng thu thuế từ các nguồn khác, và biện pháp tăng thuế nhập khẩu đã được Mỹ lựa chọn để vừa tăng thu thuế, vừa bảo hộ sản xuất trong nước. Những diễn biến mới về chiến tranh thương mại giữa Mỹ với Trung Quốc và các đối tác khác trong thời gian gần đây cũng có thể bắt nguồn từ chính sách cải cách thuế. Điều này sẽ hạn chế tốc độ lưu chuyển của thương mại toàn cầu và ảnh hưởng tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế thế giới. Tuy nhiên, tác động tiêu cực của chính sách cải cách thuế tới thương mại thế giới có thể được bù đắp phần nào nhờ nhu cầu nhập khẩu của Mỹ tăng khi dòng vốn FDI vào Mỹ tăng lên. Kết quả ứng dụng mô hình NIGEM cho thấy trong dài hạn, thương mại thế giới dưới tác động của Luật thuế có thể có xu hướng giảm, đặc biệt là vào năm 2020 (với mức giảm là 0,5%, % thay đổi so với phương án không có cải cách thuế).

Biểu đồ 6: Tác động của Luật thuế Mỹ đối với thế giới

 


[1]Theo IMF (1/2018), tác động tích cực của chính sách cải cách thuế tại  Mỹ tới tăng trưởng kinh tế thế giới sẽ giảm từ năm 2022.

 

Nguồn: Tính toán của tác giả dựa trên mô hình Nigem

Nghiên cứu các tác động của Luật thuế đến một số nền kinh tế chủ chốt, đối tác quan trọng về thương mại và đầu tư của Mỹ cho thấy kết quả tương tự như tác động đến tăng trưởng của thế giới, tuy nhiên, tuỳ theo mối quan hệ phụ thuộc về thương mại và đầu tư với Mỹ mà với mỗi nền kinh tế khác nhau mức độ tác động của Luật thuế cũng sẽ khác nhau.

Đối với nền kinh tế châu Âu, là đối tác đầu tư lớn của Mỹ, Luật thuế có tác dụng khiến FDI hai chiều đều tăng trong ngắn hạn, song về dài hạn Mỹ vẫn có lợi hơn so với EU nhờ thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn. Kết quả đánh giá định lượng từ mô hình NIGEM cho thấy, vốn đầu tư tích luỹ của các nước thuộc khu vực châu Âu không chịu tác động của Luật thuế trong năm đầu tiên tuy nhiên, vốn đầu tư của các nước này có thể giảm hai năm sau đó, nhưng với mức độ giảm không đáng kể. Xuất khẩu tăng thêm 0,06% năm 2018, 0,16% năm 2019; 0,11% năm 2020 và giảm từ năm 2021 và những năm sau đó. GDP của khu vực Eurozone  tăng thêm 0,08% năm 2018, giảm còn 0,04% năm 2019 và giảm nhẹ từ năm 2020 ở mức -0,13% và những năm sau đó.

Bảng 2: Tác động của Luật thuế Mỹ đến vốn đầu tư tích luỹ các nước

Nguồn: Tính toán của tác giả dựa trên mô hình Nigem

Đối với nền kinh tế Nhật Bản, việc Mỹ giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cũng dẫn tới khả năng các công ty Mỹ đầu tư tại Nhật Bản rút tiền mặt để chuyển về Mỹ, khiến vốn đầu tư tích luỹ của Nhật Bản giảm đi. Tuy nhiên, Nhật Bản có số lượng công ty thực hiện đầu tư tại Mỹ rất lớn, đặc biệt là các công ty hoạt động trong lĩnh vực bán buôn, bán lẻ và dịch vụ, do đó có thể được hưởng lợi nhờ tiêu dùng tại Mỹ tăng. Điều này có thể sẽ giúp giảm bớt tác động tiêu cực của Luật thuế Mỹ đên nền kinh tế Nhật Bản. Kết quả phân tích cho thấy, vốn đầu tư tích luỹ của Nhật Bản chịu tác động nhỏ nhất từ Luật thuế trong số các nước được nghiên cứu, với vốn đầu tư gần như không thay đổi từ năm 2018-2022, giảm nhẹ từ năm 2023. GDP tăng thêm lần lượt ở mức 0,08% và 0,07% trong 2 năm 2018, 2019 và gần như không thay đổi đến năm 2022.

Luật thuế mới của Mỹ có thể để lại cả ảnh hưởng tích cực và tiêu cực tới Hàn Quốc, cụ thể việc giảm thuế TNDN có thể sẽ thúc đẩy xu hướng các công ty, đặc biệt là các công ty công nghệ cao của Hàn Quốc đầu tư vào Mỹ. Tuy nhiên,  với việc Mỹ giảm thuế thu nhập, dự kiến sẽ thu hút các doanh nghiệp lớn vào Mỹ. Bên cạnh đó, xu hướng tăng thuế của Hàn Quốc cũng đối lập với xu hướng giảm thuế thu nhập doanh nghiệp của một số nước phát triển như Anh, Pháp và Nhật Bản. Đánh giá định lượng tác động từ mô hình NIGEM cho thấy dưới tác động của Luật thuế cải cách Mỹ, GDP của Hàn Quốc có thể chịu tác động tiêu cực, song ở mức độ nhẹ hơn và chỉ bắt đầu giảm với mức độ nhẹ, khoảng 0,05% từ năm 2020 và giảm tiếp ở mức 0,06% (khoảng 300 tỷ won) đến năm 2022, sau đó phục hồi trở lại trong dài hạn.

Đánh giá từ mô hình NIGEM cho thấy Luật thuế Mỹ có tác động tiêu cực khá rõ đối với nền kinh tế Trung Quốc so với các nước được nghiên cứu. Vốn đầu tư tích luỹ của Trung Quốc giảm nhẹ bắt đầu từ năm 2019, mức giảm có xu hướng tăng và kéo dài trong dài hạn, đỉnh điểm giảm thêm 0,8% vào năm 2026; -0,9% vào năm 2027. Đây có thể là lý do GDP của Trung Quốc bị tác động lớn hơn so với các nước khác bởi Luật thuế cải cách từ Mỹ, ở mức -0,2% từ năm 2021 và kéo dài trong dài hạn. Đầu tư của Mỹ vào Trung Quốc có thể phải chịu áp khá lớn khi Mỹ giảm thuế thu nhập doanh nghiệp bởi các chi phí liên quan đến thuế thực tế tại Trung Quốc cao nhất trong nhóm nước phát triển nếu tính cả đến các khoản mà doanh nghiệp Trung Quốc phải nộp cho quỹ hưu trí, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm liên quan đến việc làm, trợ cấp nhà ở… (World Bank, 2017). Bên cạnh đó, đồng USD tăng giá, đồng NDT giảm giá do tác động của Luật thuế có thể đang và sẽ làm dòng vốn dịch.

Bảng 3: Tác động của Luật thuế đến GDP của các nước

 Nguồn: Tính toán của tác giả dựa trên mô hình Nigem


Tài liệu tham khảo:

  1. Alexander Lee và cộng sự (2018), “US Tax Reform Imlications from a Chinese Perspective”, Công ty luật quốc tế MWE, truy cập 12/5/2018;
  2. Australian Government’s Treasury (2017), US Corporate Tax Reform: Implications for the rest of the world, tháng 11/2017.
  3. CBO(2017),https://www.cbo.gov/system/files/115th-congress-2017-2018/costestimate/53415-hr1conferenceagreement.pdf;
  4. Christoph Spengel và cộng sự (2017),  Analysis of US Corporate Tax Reform Proposals and their Effects for Europe and Germany, tháng 12/2017.
  5. David Floyd (2018), “Trump’s Tax Reform Plan”, https://www.investopedia.com/news/trumps-tax-reform-what-can-be-done/;
  6. KPMG (2018), Tax reform – KPMG Report on New Tax Law;
  7. Keith Hall  (2017)  [https://www.cbo.gov/system/files/115th-congress-2017-2018/costestimate/53415-hr1conferenceagreement.pdf];
  8. KIEP (3/2018), “U.S. Tax Reform and Its Implications for Korea”;
  9. Ernst and Young  (2018), “US tax reform”;
  10.  Fuest và cộng sự, (2005), “Capital mobility and tax competition”, Foundations and Trends in Microeconomics 1(1): 1-62.
  11. Sumitomo Mitsui Banking Corporation (1/2018), “Impact of U.S. Tax Reform on Japanese Corporations”;
  12. Tax Foundation, Special Report, số 241, 12/2017;
  13. Ursel Baumann và Allan Gloe Dizioli (2018), “The macroeconomic impact of US tax reform”, ECB Economic Bulletin, Issue 1 / 2018.
  14. UNCTAD (2018), World Investment Report, tháng 6/2018.

 

[1]Keith Hall, 2017 [https://www.cbo.gov/system/files/115th-congress-2017-2018/costestimate/53415-hr1conferenceagreement.pdf]

 

[2]Tax Foundation SPECIAL REPORT No. 241 Dec. 2017 https://files.taxfoundation.org/20171220113959/TaxFoundation-SR241-TCJA-3.pdf

 

 

 

 

[1]  Báo cáo đặc biệt, Tax Foundation, số 241, 12/2017 [https://files.taxfoundation.org/20171220113959/TaxFoundation-SR241-TCJA-3.pdf]


 

[1]https://www.cbo.gov/publication/53415

 

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Trần Thị Thu Hà (Nghiên cứu viên chính, Ban KTTG)
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202