Tin Kinh tế- xã hội  > Kinh tế thế giới

Triển vọng và xu hướng đầu tư toàn cầu trong thời gian tới

Cập nhật lúc: 19/12/2018 02:00:00 PM

Trong ngắn hạn, mặc dù có sự sụt giảm trong hai năm trở lại đây, FDI tiếp tục cho thấy triển vọng ổn định do tăng trưởng toàn cầu đang trên đà phục hồi. GDP dự kiến tăng ở các nền kinh tế phát triển và các nền kinh tế mới nổi. Các hoạt động kinh tế M&A dự báo sẽ vẫn diễn ra tích cực. Sự phục hồi của kinh tế toàn cầu trong hai năm 2016-2017 là động lực quan trọng giúp duy trì dòng FDI giữa các quốc gia (mặc dù xu hướng 2 năm trở lại đây có vẻ ngược lại). Năm 2016, tăng trưởng toàn cầu đạt 2,7% và năm 2017 đạt mốc mới 3,1%. Sau khi bị chao đảo trong năm 2016 với tốc độ tăng trưởng còn 1,7% từ mức 2,3% trong năm 2015, các nền kinh tế đã phát triển đã phục hồi trở lại, đặc biệt là Mỹ (từ 1,5% lên mức 2,3%), EU (1,8 lên 2,4%) và Nhật Bản (từ 1% lên 1,7%). Đây cũng là nhóm nước cung cấp nguồn FDI lớn trên thế giới. Tuy nhiên, trong dài hạn, các yếu tố như rủi ro địa chính trị, căng thẳng thương mại, sự thay đổi các chính sách bảo hộ có thể gây ra những tác động tiêu cực đối với dòng FDI toàn cầu.

Hình 1: Tăng trưởng kinh tế toàn cầu

Nguôn: WB, 2018, Báo cáo triển vọng kinh tế toàn cầu

Các dự báo gần đây chỉ ra rằng năm 2018 FDI toàn cầu có thể tăng lên, từ mức 1,43 ngàn tỷ năm 2017 lên, trong khoảng từ lên 1,45-1,57 ngàn tỉ USD (tăng khoảng 1,3%- 9,6%) trong đó tăng nhanh ở các nền kinh tế phát triển trong khoảng 5-10%; với nền các nền kinh tế đang phát triển dòng vốn đầu tư sẽ giảm nhẹ khoảng 5% so với 2017. Mặc dầu vậy, dòng vốn FDI vào khu vực châu Á vẫn giữ ở mức ổn định khoảng 470 tỷ như năm 2017. Căng thẳng thương mại toàn cầu ở các nền kinh tế lớn sẽ tác động đến các quyết định đầu tư của MNEs. Khi các hàng rào thuế quan có hiệu lực, chuỗi gia trị toàn cầu trong các ngành như dệt may, điện tử sẽ bị tác động, lợi nhuận của các MNEs sẽ bị giảm, từ đó làm suy yếu động lực để đầu tư của các công ty này. Nguồn vốn đầu tư vào Trung Quốc tiếp tục tăng do thực hiện các chính sách tự do hóa, mặc dù vậy có thể chậm lại một chút. Theo IPA, Trung Quốc vẫn là thị trường đầu tư FDI tiềm năng nhất ngay cả khi chiến tranh thương mại đang căng thẳng, theo sau là Mỹ, Đức và Anh (mặc dù sau sự kiện Brexit niềm tin đầu tư vào Anh đã giảm đi rõ rệt)

 Các nền kinh tế mới nổi tiếp tục là nơi tiếp nhận đầu tư FDI. Các nhà đầu tư vẫn tiếp tục đặt niềm tin vào việc phát triển của các quốc gia châu Á, đồng thời dự báo các quốc gia Đông Nam Á như Indonesia, Thái Lan, Philippines, Việt Nam và Singapore là những quốc gia có triển vọng nhất trong việc thu hút đầu tư nước ngoài. FDI đầu tư vào các quốc gia trong khu vực ASEAN, bao gồm các nền kinh tế có thu nhập trung bình – thấp đặc biệt là các nước CLMV cũng được dự báo gia tăng. Khu vực Tây Á, triển vọng khả quan đối với giá dầu cùng những nỗ lực đa dạng hóa nền kinh tế, ngăn chặn những bất ổn địa chính trị  của các quốc gia dầu mỏ sẽ kích thích dòng vốn đầu tư. Tuy nhiên cũng cần chú ý rằng, các quốc gia châu Á được dự báo sẽ bị ảnh hưởng mạnh mẽ nhất về nguồn vốn FDI nếu căng thẳng thương mại gia tăng.

Lĩnh vực dịch vụ và công nghệ có triển vọng thu hút đầu tư nhiều nhất

Triển vọng tích cực từ nền kinh tế toàn cầu trong ngắn hạn đã tác động đến kế hoạch đầu tư của các MNEs. Việc áp dụng những cải tiến trong công nghệ và nền kinh tế kỹ thuật số đã tích cực thúc đẩy đầu tư xuyên biên giới. Đồng thời việc thiết lập hoạt động M&A xuyên biên giới trong lĩnh vực dịch vụ sẽ là điểm nổi bật trong những năm tới. Đầu tư vào các lĩnh vực xanh cũng sẽ là phương thức được ưu tiên để tiếp cận thị trường nước ngoài Các công ty công nghệ được kỳ vọng sẽ là những nhà đầu tư tích cực nhất; họ đang có kế hoạch mở rộng ở tất cả các khu vực. Các công ty tài chính tập trung đầu tư vào khu vực các nền kinh tế phát triển, trong khi đó các công ty bán lẻ sẽ hướng đến các quốc gia đang phát triển, nơi thị trường tiêu thụ đầy triển vọng và chi phí nhân công thấp hơn.

Một số nghiên cứu gần đây (Adam, 2018) cho rằng tại các quốc gia đang phát triển dự báo ngành nông nghiệp, thông tin và truyền thông, cơ sở hạ tầng có triển vọng thu hút đầu tư nhiều nhất. Trong khi đó, IPA tại các quốc gia phát triển kỳ vọng các ngành thông tin và truyền thông, các ngành sản xuất chuyên môn hóa cao như dược phẩm, ô tô và máy móc sẽ dẫn đầu trong việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. MNEs đến từ các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi sẽ có kế hoạch tăng ngân sách chi tiêu đầu tư bắt đầu từ năm 2018. Một số ngành có triển vọng đầu tư nhiều hơn là thông tin và chuyền thông, thực phẩm và đồ uống (Hình bên dưới).

Hình 2: Các ngành triển vọng thu hút đầu tư nước ngoài FDI

Nguồn: Báo cáo điều tra của IPA

Từ góc độ động lực cho đầu tư, những phân tích gần đây cũng cho thấy thấy tìm kiếm thị trường và tìm kiếm hiệu quả (market and efficiency seeking FDI) vẫn là động lực quan trọng nhất giúp thúc đẩy luồng FDI trong thời gian tới. Các lĩnh vực được đầu tư thông qua hình thức này rất đa dạng như hóa chất, thực phẩm, đồ uống, tài chính, giao thông, truyền thông. Động cơ đầu tư của công ty đến từ các nước đang phát triển và phát triển là hoàn toàn khác nhau. Với xu hướng tăng nhanh của các thương vụ M&A, đầu tư do tìm kiếm các tài sản chiến lược sẽ vẫn tăng mặc dù có một số tín hiệu xấu từ việc đầu tư của Trung Quốc sang thị trường Mỹ trong các lĩnh vực điện tử. Tuy nhiên, đầu tư trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ vẫn chủ yếu dựa trên động lực này. Ví dụ, lợi thế về dân số đã giúp ngành công nghiệp ô tô tại Trung Quốc thu hút rất nhiều các nhà đầu tư nước ngoài. Với 175 tỷ USD năm 2015, tăng 53% so với năm 2014, Hồng Kông (Trung Quốc) đã trở thành nước tiếp nhận dòng vốn FDI lớn thứ hai thế giới sau Mỹ. Tương tự, dòng vốn đầu tư vào các quốc gia tại châu Phi ngày một tăng, chủ yếu ở các ngành điện, khí đốt, nước, xây dựng, thực phẩm, đồ uống. Nguyên nhân hấp dẫn các nhà đầu tư là do chính sách công nghiệp ngày một cải thiện, nhiều ưu đãi tài chính hơn; thị trường tiêu dùng ngày một gia tăng. Các hãng ô tô lớn trên thế giới đều đã thâm nhập vào khắp châu Phi với mong muốn tìm kiếm thị trường mới  như Ford (Mỹ), Renault (Đức) đã đầu tư vào Morocco; BMW và Volkswagen (Đức) tại Nam Phi; Honda (Nhật) tại Nigeria;….

Ảnh hưởng của yếu tố phát triển của công nghiệp kỹ thuật số và Cách mạng công nghệ 4.0 cũng cần phải chú ý trong thời gian tới. Xu hướng phát triển dựa trên nền tảng của công nghệ số, robot, AI mặc dù không mới nhưng phát triển nhanh do nhiều quốc gia đang đẩy mạnh các lĩnh vực này. Nền kinh tế kỹ thuật số có khả năng biến đổi các hoạt động quốc tế của các MNEs và sự tác động của các chi nhánh nước ngoài tới nước chủ nhà, do đó ảnh hưởng đến các chính sách đầu tư. Mặt khác, sự phát triển kỹ thuật số trên toàn cầu đặc biệt là sự tham gia của các nước đang phát triển, thu hút các chính sách đầu tư nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng kết nối, thúc đẩy các doanh nghiệp kỹ thuật số và hỗ trợ kỹ thuật hóa mở rộng nền kinh tế. Nền kinh tế kỹ thuật số ảnh hưởng đến các công ty đang mở rộng thị trường, lượng vốn và hướng đầu tư xuyên biên giới, các hoạt động mà MNEs sẽ thiết lập ở nước ngoài, các mô hình quản trị trong chuỗi cung ứng toàn cầu và tác động của các chi nhánh nước ngoài tới nước chủ nhà. Nghiên cứu của Eden (2016), McKinsey Global Institute (2016) đã chỉ ra kỹ thuật số hóa đang thay đổi chiến lược hoạt động quốc tế của các MNEs. Sự phát triển của kỹ thuật hóa cho phép MNEs hoạt động trên toàn cầu và tham gia vào các thị trường nước ngoài mà không cần sự hiện diện hữu hình cũng như không tạo việc làm ở nước đầu tư. Các MNEs có thể sử dụng kỹ thuật hóa có thể tiếp cận người tiêu dùng trực tuyến và thường phân phối qua kênh của bên thứ ba. Tại các thị trường nhỏ hơn, họ chỉ đặt văn phòng công ty đại diện. Ở góc độ sản xuất, các hoạt động diễn ra chủ yếu trên internet, có tính chất vô hình và xuyên quốc gia. Trong bối cảnh này, các động lực truyền thống thu hút FDI suy yếu. Do động lực cho FDI tìm kiếm thị trường và FDI tìm kiếm hiệu quả bị giảm một phần do số hóa,  các loại FDI khác đang trở nên quan trọng hơn, bao gồm FDI tìm kiếm tri thức và FDI đầu tư tài chính và thuế. So với các loại hình FDI truyền thống, các hình thức đầu tư này có xu hướng ít tác động đến quá trình sản xuất quốc tế.

Triển vọng FDI vào Việt Nam

Việt Nam nằm trong vùng động lực về thu hút FDI nhất. Các quốc gia Đông Ávà Đông Nam Á chiếm tới 33% tổng FDI toàn cầu, trong đó khu vực ASEAN chiếm 33.5%. Tỷ trọng FDI vào Việt Nam trong khu vực ASEAN tăng liên tục từ 7% năm 2010 lên trên 10% năm 2017. Dự báo trong thời gian tới luồng FDI vào khu vực này vẫn tiếp tục ổn định, vì vậy mức đầu tư vào Việt Nam được kỳ vọng vẫn giữ được ở mức cao như năm 2016 và 2017.

Có hai yếu tố tác động trực tiếp tới FDI vào Việt Nam trong ngắn hạn đó là chiến tranh thương mại và điều chỉnh thuế thu nhập của Mỹ. Cả hai yếu tố này đều có những mặt tích cực lẫn tiêu cực tới thu hút FDI ở Việt Nam. Với việc điều chỉnh thuế thu nhập của Mỹ, dự báo có tác động tiêu cực tới dòng FDI toàn cầu và vì vậy cũng ảnh hưởng tới Việt Nam. Luật thuế mới của Mỹ có thể có tác động đến đầu tư của Mỹ tại Việt Nam trên một số góc độ sau: Thứ nhất, với mức thuế thu nhập doanh nghiệp giảm mạnh xuống 21% và và áp thuế với khoản lợi nhuận phát sinh từ nước ngoài,các công ty Mỹ đang đầu tư tại Việt Nam có thể xem xét lại các chiến lược đầu tư ở Việt Nam hoặc có thể rút lợi nhuận từ Việt Nam để chuyển hoạt động về Mỹ, thay vì tiếp tục mở rộng đầu tư tại Việt Nam. Thứ hai, xu hướng giảm thuế của Mỹ có thể gây ra làn sóng giảm thuế của một số nước khác hoặc các ưu đãi khác nhằm giữ doanh nghiệp Mỹ ở lại, từ đó làm cho sức cạnh tranh của môi trường đầu tư của Việt Nam bị giảm đi tương đối.  So với các nước trong khu vực, năng suất lao động (NSLĐ) của Việt Nam (tính theo $PPP), mặc dù đã được cải thiện và thu hẹp khoảng cách, song vẫn còn rất lớn. Năm 2015, NSLĐ Việt Nam thấp hơn NSLĐ của Singapore 17 lần, thấp hơn NSLĐ của Nhật Bản 11 lần, thấp hơn NSLĐ của Hàn Quốc 10 lần, bằng 1/5 NSLĐ của Malaixia và 2/5 NSLĐ của Thái Lan[1]. Điều đáng nói là, NSLĐ của các nước kém phát triển hơn đang dần bắt kịp NSLĐ của Việt Nam cho thấy năng lực cạnh tranh của Việt Nam còn yếu và nguy cơ tụt hậu của nền kinh tế là khá rõ. Tuy nhiên, nếu sự chuyển hướng đầu tư xảy ra, tác động lớn sẽ tập trung vào dòng FDI đang tận dụng lợi thế chi phí rẻ của Việt Nam hơn là dòng FDI đầu tư vào các tài sản chiến lược hoặc đầu tư với mục tiêu chiếm lĩnh thị trường. Cơ cấu đầu tư của Mỹ ở Việt Nam tập trung nhiều hơn vào nhóm thứ nhất hơn, vì thế có thể tác động trực tiếp sẽ là không lớn.

Bảng 1: Cơ cấu đầu tư của một số nước vào Việt Nam

Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài

Ngoài ra, Việt Nam đang đẩy mạnh tiến trình ký kết các hiệp định thương mại tự do đa phương, nổi bật là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), tín hiệu tích cực cho thấy triển vọng thu hút đầu tư của Việt Nam từ các nước khác.

Sử dụng mô hình NIGEM để đánh giá tác động cho thấy dòng vốn FDI vào Việt Nam có thể bị ảnh hưởng tiêu cực trong ngắn hạn, song tác động là không đáng kể. Tổng vốn FDI của Việt Nam giảm nhẹ ở mức 0.01 tỷ USD/năm  đến 2020 và và phục hồi trở lại. Ngoài ra, tác động tích cực từ các FTA và tiến trình cải cách kinh tế của Việt Nam sẽ tiếp tục thu hút FDI vào Việt Nam bù đắp cho tác động tiêu cực trên. Tuy nhiên đây chỉ là tác động trực tiếp từ việc Mỹ giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, tác động gián tiếp khác như việc các quốc gia khác sẽ hạ thuế hoặc có các cải thiện về môi trường đầu tư chưa được tính đến.

Với tác động của Chiến tranh thương mại Mỹ-Trung, Việt Nam có thể chịu tác động hai chiều. Tác động tích cực là cơ hội thị trường của Mỹ nếu hàng xuất khẩu Trung Quốc bị hạn chế. Tuy nhiên, tác động này không lớn do các sản phẩm Trung Quốc bị áp thuế hiện nay (trong trường hợp Mỹ đang áp 50 tỷ $) cũng không phải là sản phẩm chủ lực của Việt Nam, đồng thời khối FDI sẽ có một số lợi thế hơn so với doanh nghiệp trong nước. Cơ hội với thị trường Trung Quốc cũng không nhiều khi các hàng hóa của Mỹ xuất sang Trung Quốc đều không phải thế mạnh của Việt Nam. Ngoài ra cả Trung Quốc hay Mỹ đều có thể lựa chọn chuyển hướng đầu tư, sau đó xuất khẩu hàng hóa từ các nước trung gian như Việt Nam sang nước kia để không phải chịu mức áp thuế cao. Tuy nhiên tác động FDI có thể có nhưng không nhiều. Ngược lại Việt Nam có thể chịu tác động  tiêu cực do tốc độ tăng trưởng chung toàn cầu bị giảm đi kéo theo cầu về hàng xuất khẩu của Việt Nam giảm. Theo phân tích, ngoại trừ  EU, các đối tác thương mại lớn của Việt Nam đều bị ảnh hưởng tiêu cực. Ở một góc độ khác, khi hàng Trung Quốc xuất khẩu vào Mỹ bị áp thuế, để giảm phụ thuộc vào Mỹ, duy trì năng suất, Trung Quốc có thể có những chính sách phá giá, đẩy hàng hóa sang các nước xung quanh, trong đó có Việt Nam. Điều này tạo ra sức ép cho doanh nghiệp FDI có ý định đầu tư để tìm kiếm thị trường ở Việt Nam. Ở khia cạnh khác, tác động tích cực cũng có thể từ dòng vốn FDI tăng thêm, trong điều kiện các nước sẽ dịch chuyển từ Trung Quốc sang Việt Nam. Tuy nhiên, tính toán cho thấy tác động này không đáng kể, thậm chí FDI vào Việt Nam còn có xu hướng giảm xuống. Điều này có thể do tác động của thương mại bị ảnh hưởng làm cho tình hình sản xuất của khu vực FDI bị ảnh hưởng vì vậy sẽ hạn chế một chút dòng đầu tư. Tuy nhiên cần chú ý là tác động này không quá lớn (cao nhất là -0.05%).

 


[1] Nguồn: “Chất lượng nguồn nhân lực và vấn đề nâng cao năng suất lao động của Việt Nam”, PGS. TS Nguyễn Lan Hương (2017)

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Đỗ Thị Bảo Ngọc (Ban Kinh tế Thế giới)
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202