Tin Kinh tế- xã hội  > Kinh tế vĩ mô

Tình hình kinh tế Việt Nam tháng 10 và 10 tháng năm 2018

Cập nhật lúc: 12/12/2018 02:00:00 PM

Mười tháng đầu năm 2018, kinh tế Việt Nam ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực trong sản xuất kinh doanh cũng như ổn định kinh tế vĩ mô. Trong đó, có sự cải thiện ấn tượng ở cả phía cung và phía cầu; lạm phát trong tầm kiểm soát; cán cân thương mại tiếp tục thặng dư, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt khá, thu chi NSNN được quản lý chặt chẽ, … Song, bên cạnh đó, nền kinh tế vẫn tiềm ẩn nhiều bất ổn, rủi ro ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế, như: thị trường tài chính tiền tệ nhiều biến động; ngành nông, lâm, thuỷ sản bị thiệt hại do chịu ảnh hưởng lớn từ thiên tai;…

Khu vực sản suất kinh doanh tiếp tục được cải thiện

Trong 10 tháng đầu năm 2018, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đã có bước bứt phát ngoạn mục trở thành động lực dẫn dắt lĩnh vực sản xuất công nghiệp. Bên cạnh đó, khu vực dịch vụ tiếp tục đà tăng cao; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản mặc dù chịu nhiều ảnh hưởng từ thiên tai (đặc biệt trong quý III/2018), song tính chung 10 tháng vẫn có mức tăng khá. Cả ba khu vực này đã tạo thế kiềng ba chân vững chắc, thúc đẩy tổng cung.

- Khu vực công nghiệp và xây dựng liên tục cải thiện trong 10 tháng đầu năm. Tốc độ tăng trưởng của khu vực công nghiệp và xây dựng quý II/2018 đạt 8,4% so với cùng kỳ, sang quý III/2018 là 8,61%. Tính chung 9 tháng đầu năm, khu vực này đã tăng 8,89%, cao hơn nhiều so với mức 7,17% của cùng kỳ năm 2017.

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) toàn ngành công nghiệp tháng 10/2018 ước tăng 10,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả 10 tháng đầu năm IIP ước tăng xấp xỉ 11,2% so với cùng kỳ. Trong khu vực sản xuất công nghiệp, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục khẳng định là điểm sáng và là động lực chính của tăng trưởng kinh tế với mức tăng trong 9 tháng đầu năm đạt mức 12,65%, tuy thấp hơn mức tăng của cùng kỳ năm 2017 nhưng cao hơn nhiều so với mức tăng 9 tháng các năm 2012-2016 (1), đóng góp 2,56 điểm phần trăm. Ngược lại ngành công nghiệp khai khoáng vẫn tăng trưởng âm. Tính chung 9 tháng đầu năm 2018 giảm 1,97%, làm giảm 0,14 điểm phần trăm mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế nhưng mức giảm đã được thu hẹp đáng kể so với mức giảm 8,08% của cùng kỳ năm trước.

Chỉ số PMI dù tăng chậm lại nhưng vẫn cho thấy dấu hiệu tích cực. Theo công bố từ Nikkei – HIS Markit, chỉ số nhà quản trị mua hàng toàn phần lĩnh vực sản xuất của Việt Nam (PMI) đã giảm nhẹ đã giảm từ mức 53,7 điểm trong tháng 8 còn 51,5 điểm trong tháng 9. Nhân tố chính làm giảm chỉ số PMI trong tháng 9 là cả sản lượng và số lượng đơn đặt hàng mới đều tăng chậm hơn. Như vậy, tốc độ cải thiện sức khỏe của lĩnh vực sản xuất đã chậm lại trong ba tháng liên tiếp, với mức cải thiện điều kiện kinh doanh gần đây nhất là yếu nhất kể từ tháng 11 năm ngoái. Tuy nhiên, các điều kiện hoạt động đã cải thiện hơn trong suốt 34 tháng qua. Một khía cạnh tích cực hơn là mức độ tự tin trong kinh doanh đã tăng trở lại từ mức thấp kỷ lục của tháng 8. Các kế hoạch phát triển của công ty và kỳ vọng tăng số lượng đơn đặt hàng mới đã hỗ trợ cho tinh thần lạc quan về sản lượng tăng trong năm tới.

- Khu vực dịch vụ vẫn liên tục duy trì ổn định tăng trưởng ở mức khá kể từ đầu năm 2018. Tăng trưởng tốt của khu vực này chủ yếu nhờ nhóm ngành bán buôn và bán lẻ; dịch vụ lưu trú hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm; và hoạt động kinh doanh bất động sản. Đặc biệt, ngành bán buôn, bán lẻ - là ngành có tỷ trọng lớn nhất trong lĩnh vực dịch vụ tiếp tục duy trì được mức tăng trưởng cao, ổn định. Ước tính, trong 10 tháng đầu năm, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng  tăng 12,9% so với cùng kỳ năm trước, là ngành có đóng góp cao nhất vào mức tăng trưởng chung.

- Khu vực nông, lâm, thủy sản có mức tăng trưởng ấn tượng trong hơn nửa đầu năm 2018, song do ảnh hưởng của diễn biến thời tiết xấu trong quý III/2018 nên đà tăng trưởng có phần giảm tốc. Cụ thể: tốc độ tăng trưởng GDP khu vực nông lâm thủy sản trong quý II/2018 đạt mức đạt mức 3,54% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, sang quý III/2018, tình hình thời tiết mưa lũ gây ngập lụt tại nhiều nhiều địa phương phía Bắc và nắng hạn tại một số tỉnh thành phía Nam gây thiệt hại cho ngành nông nghiệp và thủy sản khiến tốc độ tăng trưởng của quý III/2018 đạt mức 3,46%, thấp hơn so với quý II/2018. Bước sang tháng 10, diễn biến thời tiết thuận lợi hơn cũng góp phần hỗ trợ cho sư phát triển của khu vực này. Hoạt động chăn nuôi và đánh bắt nuôi trồng thủy sản không có biến động đáng kể. Chăn nuôi lợn phát triển mạnh khi giá lợn hơi tăng kỷ lục, Chăn nuôi trâu, bò và gia cầm nhìn chung ổn định.

 Cán cân thương mại duy trì thặng dư

Tình hình xuất khẩu tháng 10 vẫn tiếp tục đón nhận nhiều thông tin ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam, cụ thể: (1) các động thái trả đũa và gây hấn thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc, là hai đối tác thương mại chính của Việt Nam, đã dấy lên những lo ngại không nhỏ về tương lai thương mại của Việt Nam. Ở chiều tiêu cực, hàng hóa Trung Quốc khó vào thị trường Mỹ sẽ chuyển hướng sang các thị trường khác. Việt Nam cũng đứng trước nguy cơ nhập siêu trầm trọng hơn từ Trung Quốc trong khi xuất khẩu của Việt Nam vào Trung Quốc cũng sẽ khó khăn hơn. (2) tỷ giá USD/VND liên tục điều chỉnh tăng cũng ảnh hưởng nhiều chiều tới bức tranh thương mại Việt Nam. Theo đó, trong tháng 10, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá ước tính đạt 43,460 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 22,34 tỷ USD; kim ngạch nhập khẩu ước đạt 21,12 tỷ USD.  Như vậy, Việt Nam xuất siêu trong tháng 10 khoảng 1,22 tỷ USD; qua đó, làm tăng giá trị thặng dư thương mại 10 tháng năm 2018 lên khoảng mức 7,76 tỷ USD.

Về xuất khẩu, trong tháng 10, kim ngạch xuất khẩu Việt Nam ước tính đạt 22,234 tỷ USD, tăng (-) 5,75% so với tháng 9 và tăng 8,24% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu ước tính đạt 201,455 tỷ USD, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực trong nước đạt 59,4 tỷ USD (tương đương 29,5% tổng kim ngạch xuất khẩu), tăng 21,04% so với cùng kỳ năm trước, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 142 tỷ USD (tương đương 70,5% tổng kim ngạch xuất khẩu), tăng 12,8% so với cùng kỳ năm trước.Về mặt hàng, do tác động trực tiếp về tỷ giáUSD/VND cùng với sự biến động của các thị trường xuất khẩu chính, giá cả và kim ngạch xuất khẩu của các mặt hàng chủ lực có nhiều thay đổi. Cụ thể: tác động tích cực tới các mặt hàng thuỷ hải sản và nông nghiệp, khi các mặt hàng này ít chịu phụ thuộc vào thị trường nhập khẩu. Ngược lại là dệt may, sắt thép và các mặt hàng linh kiện điện tử,điện thoại lại bị điều chỉnh giảm do phụ thuộc nhiều vào thị trường nhập khẩu.

Về nhập khẩu, tính riêng tháng 10, kim ngạch nhập khẩu của toàn nền kinh tế ước đạt 21,120 tỷ USD, tăng 8,24% so với tháng trước và tăng 16,6% so với cùng kỳ năm trước; nâng tổng kim ngạch nhập khẩu 10 tháng đầu năm lên mức 193,7 tỷ USD, tăng 12,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhập khẩu của khu vực kinh tế trong nước đạt 77,87 tỷ USD (tương đương 40,2% tổng kim ngach nhập khẩu), tăng 11,3% so với cùng kỳ năm trước và nhập khẩu của khu vực FDI ước đạt 115,8 tỷ USD (tương đương 59,8% tổng kim ngạch nhập khẩu), tăng 13,76% so với cùng kỳ năm trước. Cơ cấu nhập khẩu của Việt Nam vẫn tập trung chủ yếu vào các mặt hàng nguyên vật liệu sản xuất như máy móc, phụ tùng và thị trường nhập khẩu vẫn chưa có nhiều thay đổi.

 Đầu tư duy trì tăng trưởng ở mức khá

Tình hình thực hiện và giải ngân vốn đầu tư trong những tháng vừa qua có chuyển biến tích cực. Cùng với Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương khẩn trương thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ giải ngân các công trình, dự án. Theo đó, vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện theo giá hiện hành 9 tháng đầu năm ước tính 1.253,2 nghìn tỷ đồng, tăng 10,9% so với cùng kỳ năm trước và bằng 34% GDP, trong đó, vốn từ ngân sách Nhà nước thực hiện đạt 214,5 nghìn tỷ đồng, bằng 63,2% kế hoạch năm và tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2017 bằng 62,4% và tăng 6,6%). Ước tính vốn từ ngân sách Nhà nước thực hiện 10 tháng ước tính đạt 236,2 nghìn tỷ đồng. Tuy nhiên, lượng vốn đầu tư thực hiện giải ngân theo kế hoạch vẫn còn khá lớn so với kế hoạch đặt ra. Đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục là một trong những điểm sáng của bức tranh tổng thể của nền kinh tế vĩ mô. Đầu tư FDI thực hiện 10 tháng năm 2018 ước tính đạt 14,95 tỷ USD.

 Lạm phát trong tầm kiểm soát

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân quí I tăng 2,82%, quí II tăng 3,76% và quí III tăng 4,14% so với cùng kỳ. Tính chung 9 tháng đầu năm CPI bình quân đã tăng 3,57% so với cùng kỳ trong khi CPI cơ bản bình quân 9 tháng đầu năm chỉ tăng 1,4% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chính gây ra lạm phát trong 9 tháng đầu năm chủ yếu là sự tăng giá của ba nhóm hàng chính là nhóm lương thực, thực phẩm (tăng bình quân 2,65% so với cùng kỳ), nhóm giao thông (tăng 6,8%) và nhóm dịch vụ y tế (tăng hơn 14%).

Bắt đầu vào quí IV, chỉ số CPI vẫn tiếp tục có xu hướng tăng do tình hình thời tiết không thuận lợi gây áp lực tăng giá lên nhóm lương thực, thực phẩm; thêm vào đó giá dầu thế giới vẫn có xu hướng tăng trong thời gian tới. Ước tính CPI tháng 10 tăng khoảng 0,3% so với tháng trước. Tính đến hết tháng 10, chỉ số CPI  tăng khoảng 3,5% so với tháng 12 năm trước và CPI bình quân 10 tháng tăng 3,6% so với cùng kỳ.

 Thị trường tài chính tiền tệ có nhiều biến dộng

- Từ cuối tháng 5/2015 các áp lực gia tăng khá mạnh khiến tỷ giá USD/VND liên tục tăng cao. Diễn biến này bắt nguồn từ các nguyên nhân: (1) Biến động của giá USD tại thị trường Việt Nam diễn ra ngay sau khi FED nâng lãi suất đồng USD (0,25 điểm phần trăm lần 2 vào ngày 13-6) và phát tín hiệu sẽ nâng hai lần nữa trong năm 2018, theo đó chỉ số USD Index đã tăng 7% từ mức đáy năm 2018 lên 104,8 điểm, kéo tỷ giá USD/VND tự do tăng mạnh so mức trung bình các tháng trước đó. (2) Tâm lý quan ngại về việc cầu ngoại tệ trong nước ngày càng gia tăng, trong khi thặng dư xuất nhập khẩu, vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài cùng dòng tiền đầu tư của NĐTNN trên thị trường chứng khoán đã chậm lại thời gian gần đây. (3) Ảnh hưởng từ cuộc chiến tranh thương mại giữa Trung Quốc và Mỹ, với việc đồng nhân dân tệ của Trung Quốc giảm mạnh kỷ lục so với đồng USD, buộc NHNN phải có những điều chỉnh phù hợp để tỷ giá diễn biến phù hợp với tình hình thị trường trong nước và quốc tế. Trong tháng 10, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức từ 22.678 - 22.712VND/1USD.

- Về lãi suất, với sự đảm bảo của thanh khoản hệ thống và lạm phát, lãi suất được duy trì ổn định trong khoảng 5 tháng, sau đó với hiện tượng thanh khoản hệ thống giảm nhẹ và việc FED tăng lãi suất, lãi suất bình quân trên thị trường liên ngân hàng (LSLNH) tăng ở hầu hết các kỳ hạn chủ chốt, nhất là từ cuối tháng 7, LSLNH có mức tăng khá mạnh với LSLNH các kỳ hạn: qua đêm, 1 tuần và 3 tháng đã lần lượt tăng lên mức 4,610%, 4,80% và 4,08% - mức cao nhất từ đầu năm đến nay. Tuy nhiên, trong tháng 10, lãi suất thị trường liên ngân hàng có xu hướng giảm trở lại, xuống mức dưới 4%/năm.

 Thu chi ngân sách Nhà nước được quản lý chặt chẽ, đảm bảo cấn đối với dự toán

Trong năm 2018,  Chính phủ đã có những biện pháp tích cực nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải cách môi trường kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi trong thu ngân sách Nhà nước. Theo số liệu ước tính, tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến hết 15/10/2018 ước tính đạt 988,1 nghìn tỷ đồng, bằng 74,9% dự toán năm, trong đó thu nội địa đạt 775 nghìn tỷ đồng, bằng 70,5% dự toán năm, thu từ dầu thô đạt 494 nghìn tỷ đồng, bằng 137,6% dự toán năm; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 157,1 nghìn tỷ đồng, bằng 87,8% dự toán năm. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 110 nghìn tỷ đồng, bằng 66,1% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 130,6 nghìn tỷ đồng, bằng 58,6% dự toán năm; thu thuế thu nhập cá nhân71,5 nghìn tỷ đồng, bằng 73,8% dự toán năm.

Về chi ngân sách Nhà nước, Chính phủ thể hiện quyết tâm cải cách, quản lý chặt chẽ và đảm bảo cân đối với dự toán và cân đối ngân sách các cấp ngay từ đầu năm 2018. Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/10/2018 ước tính đạt 1057 nghìn tỷ đồng, bằng 60,5% dự toán năm, trong đó chi thường xuyên đạt 651 nghìn tỷ đồng, bằng 69,4% dự toán năm; chi đầu tư phát triển đạt 219,8 nghìn tỷ đồng, bằng 55% dự toán năm; chi trả nợ lãi 87 nghìn tỷ đồng, bằng 77,4% dự toán năm.

Ước thực hiện thu ngân sách cả năm 2018 đạt khoảng 1367 nghìn tỷ đồng, tăng 3,6% so với dự toán, trong đó các khoản mục thu vượt lớn so với dự toán năm bao gồm thu từ dầu thô, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu và thu thuế thu nhập cá nhân.

Như vậy, thâm hụt ngân sách 2018 ước khoảng 156,5 nghìn tỷ đồng, tương đương 2,96% GDP nếu các khoản mục chi ngân sách đạt đúng kế hoạch đã đề ra. Đây là mức bội chi thấp, góp phần giữ nợ công trong giới hạn an toàn cho phép.

 Dự báo kinh tế thế giới thời gian tới

Ở trong nước, những tháng cuối năm 2018, nền kinh tế sẽ được tiếp đà tăng trưởng khả quan từ 10 tháng đầu năm. Sang năm 2019, với mục tiêu tổng quát là giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn năm 2018, nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế. Mặt khác, tiếp đà tăng trưởng tích cực của năm 2018, nền kinh tế tiếp tục hưởng lợi từ những động lực của nền kinh tế, cụ thể: (i) Diễn biến kinh tế thế giới có nhiều yếu tố là hậu thuẫn tích cực cho tăng trưởng của Việt Nam bao gồm: triển vọng tăng trưởng khả quan của kinh tế thế giới trong đó đặc biệt từ triển vọng kinh tế Mỹ; tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế vẫn đang được đẩy nhanh, cụ thể: Hiệp định thương mại tự do (FTA) giữa ASEAN và Hồng Kông dự kiến có hiệu lực từ ngày 1/1/2019 là bước tiến quan trọng để ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng mở rộng thâm nhập vào thị trường Hồng Kông, đối tác có kim ngạch thương mại song phương với ASEAN lên đến 107 tỷ năm 2016; khả năng Hiệp định CPTPP có hiệu lực vào đầu 2019 là rất cao sau khi dự kiến đạt được sự phê chuẩn của 6 thành viên vào cuối 2018; Hiệp định thương mại Việt Nam – EU (EVFTA) được kỳ vọng sẽ được phê chuẩn vào đầu năm 2019 sẽ đảm bảo tạo điều kiện tốt nhất cho việc phát triển quan hệ kinh tế - thương mại giữa Việt Nam và EU. (ii) Môi trường kinh doanh ngày càng được cải thiện, đặc biệt là cải cách mạnh mẽ điều kiện kinh doanh, sự thay đổi về thủ tục hành chính. Chính phủ đang nỗ lực “kiến tạo” để tạo môi trường kinh doanh thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp cùng với niềm tin đang được khơi dậy từ công cuộc chống tham nhũng của Đảng hiện nay sẽ có những tác động tích cực đến các hoạt động kinh tế của Việt Nam trong năm 2019. (iii) Kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng, nhiều hiệp định thương mại quan trọng đã được ký kết thời gian qua và chuẩn bị có hiệu lực. Với 16 hiệp định FTA đã và đang được đàm phán kí kết, 10 hiệp định FTA đã có hiệu lực, thị trường tiêu thụ của Việt Nam đang ngày càng mở rộng, tạo cơ hội gia tăng nhu cầu đối với hàng Việt Nam. Thực tế cho thấy, các hiệp định tự do thương mại được kí kết đã tạo nhiều ưu đãi về thuế quan và phi thuế quan đối với hàng hóa Việt Nam, từ đó góp phần gia tăng kim ngạch thương mại của Việt Nam và mở cửa dòng vốn đầu tư từ nước ngoài vào Việt Nam. Do đó, cùng với những nỗ lực của chính phủ trong việc kí kết ngày càng nhiều hiệp định tự do thương mại FTA, thị trường tiêu thụ của các sản phẩm Việt Nam sẽ ngày càng mở rộng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng thương mại xuất – nhập khẩu.

Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố tích cực, nền kinh tế vẫn còn tồn tại nhiều yếu tố tiêu cực, có thể ảnh hưởng tới khả năng tăng trưởng, như: Thứ nhất, về dài hạn, nền kinh tế vẫn thiếu hụt các động lực tăng trưởng chính trong khi áp lực lạm phát tăng lên, hạn chế dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ để thúc đẩy tăng trưởng. Thứ ha, xu hướng bảo hộ thương mại và hàng rào phi thuế quan ngày càng gia tăng. Nhằm đảm bảo sự tăng trưởng của thị trường nội địa, nhiều quốc gia đang ngày càng có xu hướng bảo hộ thương mại và áp đặt nhiều hàng rào phi thuế quan đối với hàng hóa Việt Nam, gây ảnh hưởng tiêu cực tới tình hình xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam nói riêng và hoạt động sản xuất nói chung. Thứ ba, giá các tài sản tài chính thế giới đã tăng quá cao (cao hơn cả thời điểm xảy ra khủng hoảng tài chính 2008-2010), gây quan ngại về tình trạng "bong bóng tài chính" đang âm thầm diễn ra, đặt tình hình tài chính toàn cầu trước nguy cơ một cuộc khủng hoảng tài chính tiếp theo, đặc biệt là những vấn đề tài chính đang tích lũy trong nội tại nền kinh tế Trung quốc (khi mà giá bất động sản đang được đẩy lên cao, trong khi tình trạng dư thừa rất rõ ràng,...). Thứ tư, diễn biến thị trường ngoại hối khó lường. Chiến tranh thương mại giữa các nền kinh tế chủ chốt (Mỹ - Trung Quốc – EU) diễn ra căng thẳng hơn, có thể ảnh hưởng rất lớn tới xuất khẩu và sau đó là tăng trưởng kinh tế. Thứ năm, môi trường đầu tư và năng lực cạnh tranh của Việt Nam mặc dù đã được cải thiện nhưng hiện vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài: thủ tục hành chính rườm rà, hạ tầng chưa được cải thiện nhiều và công nghiệp phụ trợ yếu kém, nhiều chính sách vẫn đang trong quá trình hoàn thiện, trong khi yêu cầu về chất lượng các dự án FDI ngày càng cao (về công nghệ, giá trị gia tăng cao, đạt tiêu chuẩn về môi trường,...) khiến các nhà đầu tư vẫn dè dặt về môi trường hoạt động lâu dài, sức hấp dẫn của môi trường đầu tư giảm sút.

Trên cơ sở đánh giá tình hình kinh tế xã hội 10 tháng đầu năm 2018, cũng như xem xét các yếu tố có thể tác động đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam những tháng cuối năm 2018 và cả năm 20110, Trung tâm Thông tin và dự báo kinh tế - xã hội Quốc gia xây dựng hai kịch bản dự báo dựa trên các giả định về sự thay đổi của các biến số bao gồm: (1) Kinh tế thế giới: Tăng trưởng kinh tế giới; chỉ số giảm phát chi tiêu cho tiêu dùng thế giới; Giá dầu thế giới; (2) Kinh tế Việt Nam: Tỷ lệ đầu tư/GDP; tốc độ tăng lực lượng lao động, biến động của tỷ giá, lãi suất,….. Theo đó, 2 kịch bản tăng trưởng kinh tế Việt Nam thời gian tới như sau:

                                                                                         Nguồn: TCTK và dự báo của NCIF (tháng 10/2018)

Trong đó, kịch bản cơ sở là kịch bản có nhiều khả năng xảy ra hơn.


(1) Tốc độ tăng giá trị tăng thêm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 9 tháng của một số năm: Năm 2012 tăng 8,74%; năm 2013 tăng 6,58%; năm 2014 tăng 7,09%; năm 2015 tăng 10,15%; năm 2016 tăng 11,20%; năm 2017 tăng 12,77%; năm 2018 tăng 12,65%.

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Phân tích và dự báo
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202