Tin Kinh tế- xã hội  > Môi trường

Đánh giá tính tổn thương do biến đổi khí hậu

Cập nhật lúc: 30/10/2018 09:00:00 AM

Định nghĩa về tính tổn thương do biến đổi khí hậu (BĐKH) được nhiều tổ chức và nhà khoa học sử dụng do Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC, 2001) đưa ra trong Báo cáo Thứ 3 như sau: tính tổn thương là “mức độ một hệ thống tự nhiên hay xã hội có thể bị tổn thương hoặc không thể ứng phó với các tác động bất lợi do BĐKH (bao gồm các hình thái thời tiết cực đoan và biến đổi khí hậu”. Trong Báo cáo Thứ 4, định nghĩa tính tổn thương được phát triển và nêu cụ thể hơn. IPCC (2007) nhấn mạnh chỉ số tính tổn thương là một chỉ số tổng hợp của nhiều yếu tố thành phần. Tính tổn thương phụ thuộc vào hai yếu tố là (i) yếu tố tự nhiên: các tác động liên quan đến thay đổi khí hậu và thời tiết; (ii) yếu tố con người: các tác động do con người tạo ra. Chỉ số tổn thương tổng hợp phải phản ánh được tính tổn thương về kinh tế (economic vulnerability), tổn thương về môi trường (environmental vulnerability) và tổn thương về xã hội (social vulnerability) ( Carter et al. 2007).Trong đó, các yếu tố liên quan đến tính tổn thương về xã hội như giảm nghèo, đa dạng hóa sinh kế, bảo vệ tài sản cộng đồng và tăng cường các hoạt động của tập thể ngày càng quan trọng vì chúng liên quan trực tiếp đến năng lực ứng phó với BĐKH.

Trong báo cáo thứ tư này, IPCC cũng đưa ra cách tiếp cận trong đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu.

Bảng 1. Cách tiếp cận trong đánh giá tính tổn thương do BĐKH

Nguồn: IPCC (2007)

Cụ thể hơn tính tổn thương (V) là một hàm số của 3 yếu tố: (i) mức độ phơi nhiễm của hệ thống trước các tác động bất lợi của BĐKH (Exposure - E); (ii) mức độ nhạy cảm của hệ thống trước những thay đổi của khí hậu (Sensitivity - S); (iii) năng lực thích ứng với BĐKH (Adaptive Capacity - AC).

V=f(E,S,AC)

Ba yếu tố rất quan trọng trong việc xác định tính dễ bị tổn thương của hệ thống đối với biến đổi khí hậu và cung cấp thông tin hữu ích nhằm đánh giá và giảm thiểu các mối đe dọa về khí hậu (Ludena et al. 2015):

+ Mức độ phơi nhiễm: các tiêu chí phơi nhiễm khí hậu bao gồm nhiệt độ tăng, mưa lớn, hạn hán, và nước biển dâng. IPCC dự đoán rằng tác động của Trái đất nóng lên sẽ tiếp tục làm gia tăng xác suất xảy ra các hiện tượng sóng nhiệt, mưa lớn, hạn hán, áp thấp nhiệt đới, nước biển dâng.

+ Mức độ nhạy cảm: mức độ nhạy cảm của hệ thống với các thiên tai khí hậu không chỉ phụ thuộc vào các điều kiện địa lý, mà còn phụ thuộc và các nhân tố kinh tế - xã hội như dân số và cơ sở hạ tầng. Các tiêu chí về mức độ nhạy cảm có thể bao gồm điều kiện địa lý, sử dụng đất, nhân khẩu học, và cơ cấu kinh tế như mức độ phụ thuộc vào nông nghiệp và mức độ đa dạng hóa công nghiệp.

+ Năng lực thích ứng: năng lực thích ứng mô tả khả năng của một hệ thống trong việc đối đầu với các hiện tượng thời tiết cực đoan. Năng lực thích ứng bao gồm năng lực kinh tế, cơ sở hạ tầng vật chất, vốn xã hội, năng lực thể thế và tính sẵn có của dữ liệu. Năng lực kinh tế đại diện cho các nguồn lực kinh tế có sẵn để giảm thiểu tính tổn thương do BĐKH, bao gồm nguồn nhân lực, giải pháp thay thế công nghệ và vốn xã hội. Cơ sở hạ tầng vật chất mô tả phần cứng có sẵn để nâng cao năng lực thích ứng, trong khi đó, vốn xã hội bao gồm mạng lưới xã hội của kinh nghiệm cá nhân và sự tin tưởng trong việc đối phó với các ảnh hưởng của BĐKH. Năng lực thể chế được đại diện bởi năng lực lãnh đạo và cơ cấu quản trị, hệ thống phòng chống thiên tai, và chính sách BĐKH.

Chỉ số tổn thương do BĐKH (Climate Change Vulnerability Index) được thực hiện bởi công ty tư vấn rủi ro toàn cầu Maplecroft, đánh giá 42 tiêu chí xã hội, kinh tế và môi trường theo 3 yếu tố: mức độ phơi nhiễm với khí hậu liên quan tới tai biến tự nhiên và nước biển dâng; mức độ nhạy cảm của con người bao gồm dân số, sự phát triển, tài nguyên thiên nhiên, mức độ phụ thuộc nông nghiệp và các mâu thuẫn; và thứ ba là năng lực thích ứng của quản trị và cơ sở hạ tầng quốc gia nhằm ứng phó với BĐKH. Theo cách tính toán này, năm 2011, Việt Nam xếp thứ 13/16 quốc gia có mức độ rủi ro nghiêm trọng (1). Đến năm 2017, Việt Nam được xếp vào các quốc gia có mức độ rủi ro cao (2).

Tài liệu tham khảo

  1. Carter, T. R., R. N. Jones, X. Lu, S. Bhadwal, C. Conde, L. O. Mearns, B. C. O’Neill, M. D. A. Rounsevell and M. B. Zurek (2007). New Assessment Methods and the Characterisation of Future Conditions. Climate Change 2007: Impacts, Adaptation and Vulnerability, Contribution of Working Group II to the Fourth Assessment Report of the Intergovernmental Panel on Climate Change, M.L. Parry, O.F Canziani, J.P. Palutikof, P.J. van der Linden and C.E. Hanson, Eds., Cambridge University Press, Cambridge, UK, 133-171.
  2. IPCC (2001). Climate Change 2001: The Scientific Basis. Contribution of Working Group I to the Third Assessment Report of the Intergovernmental Panel on Climate Change, Houghton, J.T., Y. Ding, D.J. Griggs, M. Noguer, P.J. van der Linden, X. Dai, K. Maskell, and C.A. Johnson (eds.), Cambridge University Press, Cambridge, United Kingdom and New York, NY, USA, 881pp.
  3. Ludena, C.E., S.W. Yoon (2015). Local Vulnerability Indicators and Adaptation to Climate Change: A Survey. Inter-American Development Bank, Technical Note No. 857 (IDB-TN-857), Washington DC.

(1) https://www.maplecroft.com/about/news/ccvi.html

(2) https://reliefweb.int/sites/reliefweb.int/files/resources/verisk%20index.pdf

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Trần Thị Phương Ly (Ban Tổng hợp)
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202