Phân tích và Dự báo > Báo cáo khác

Một số nét nổi bật về tình hình kinh tế Việt Nam tháng 9 và 9 tháng đầu năm 2018

Cập nhật lúc: 08/10/2018 09:00:00 AM

 Chín tháng đầu năm 2018, kinh tế Việt Nam ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực trong sản xuất kinh doanh cũng như ổn định kinh tế vĩ mô. Trong đó, có sự cải thiện ấn tượng ở cả phía cung và phía cầu; lạm phát trong tầm kiểm soát; cán cân thương mại tiếp tục thặng dư, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt khá, thu chi NSNN được quản lý chặt chẽ, … Song, bên cạnh đó, nền kinh tế vẫn tiềm ẩn nhiều bất ổn, rủi ro ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế, như: thị trường tài chính tiền tệ nhiều biến động; ngành nông, lâm, thuỷ sản bị thiệt hại do chịu ảnh hưởng lớn từ thiên tai;…

Cụ thể, tình hình kinh tế trong nước tháng 9 và 9 tháng năm 2018 như sau:

1. Khu vực sản suất kinh doanh tiếp tục được cải thiện

Trong 9 tháng đầu năm 2018, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đã có bước bứt phát ngoạn mục trở thành động lực dẫn dắt lĩnh vực sản xuất công nghiệp. Bên cạnh đó, khu vực dịch vụ tiếp tục đà tăng cao; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản mặc dù chịu nhiều ảnh hưởng từ thiên tai (quý III/2018), song tính chung 9 tháng vẫn có mức tăng khá. Cả ba khu vực này đã tạo thế kiềng ba chân vững chắc, thúc đẩy tổng cung.

- Khu vực công nghiệp và xây dựng tiếp tục cải thiện trong tháng 9. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) toàn ngành công nghiệp tháng 9/2018 ước tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả 9 tháng đầu năm IIP ước tăng xấp xỉ 10,6% so với cùng kỳ. Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, điểm sáng vẫn là sự tăng trưởng mạnh của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với mức tăng trưởng cao đóng góp đáng kể vào mức tăng trưởng chung. Ngược lại, ngành khai khoáng trong tháng 9 tiếp tục không có cải thiện, thậm chí tăng trưởng sụt giảm dù giá dầu tăng lên mức cao. Do cả 3 nguồn khai khoáng là dầu, khí và than đá cùng có xu hướng giảm đã khiến công nghiệp khai khoáng tiếp tục tăng trưởng âm, ước 9 tháng ước giảm 1,97%. Điều này khiến cho khai khoáng trở thành ngành kéo giảm tăng trưởng GDP toàn nền kinh tế.

Chỉ số PMI dù tăng chậm lại nhưng vẫn cho thấy dấu hiệu tích cực. Theo công bố từ Nikkei – HIS Markit, chỉ số nhà quản trị mua hàng toàn phần lĩnh vực sản xuất của Việt Nam (PMI) đã giảm nhẹ từ mức 54,9 điểm của tháng 7 còn 53,7 điểm trong tháng 8 nhưng vẫn là một trong những mức tăng cao nhất kể từ khi cuộc khảo sát bắt đầu vào tháng 3/2011.

- Khu vực dịch vụ vẫn liên tục duy trì ổn định tăng trưởng ở mức khá kể từ đầu năm 2018. Tăng trưởng tốt của khu vực này chủ yếu nhờ nhóm ngành bán buôn và bán lẻ; dịch vụ lưu trú hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm; và hoạt động kinh doanh bất động sản. Đặc biệt, ngành bán buôn, bán lẻ - là ngành có tỷ trọng lớn nhất trong lĩnh vực dịch vụ tiếp tục duy trì được mức tăng trưởng cao, ổn định. Ước tính, trong 9 tháng đầu năm, khu vực dịch vụ tăng 6,89%, tuy thấp hơn mức tăng 7,21% của 9 tháng năm trước nhưng cao hơn so với cùng kỳ giai đoạn 2012-2016. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng  9 tháng ước đạt 3.235,1 nghìn tỷ đồng, tăng 11,3% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 8,8% (cùng kỳ năm 2017 tăng 8,76%), trong đó quý III/2018 đạt 1.113,1 nghìn tỷ đồng, tăng 3,8% so với quý trước và tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước.

- Khu vực nông, lâm, thủy sản có mức tăng trưởng ấn tượng trong hơn nửa đầu năm 2018, song 2 tháng gần đây, có xu hướng giảm tốc do chịu thiệt hại bởi tình hình thời tiết diễn biến xấu. Cụ thể: tốc độ tăng trưởng GDP ngành nông nghiệp trong 06 tháng đầu năm 2018 đạt mức 3,28% (đóng góp 0,34 điểm % vào tăng trưởng chung), là mức tăng cao nhất kể từ năm 2011 đến nay. Tuy nhiên, sang quý III, tình hình thời tiết mưa lũ gây ngập lụt tại nhiều nhiều địa phương phía Bắc và nắng hạn tại một số tỉnh thành phía Nam gây thiệt hại cho ngành nông nghiệp. Cụ thể như: ở các tỉnh miền Bắc, do bị ảnh hưởng của cơn bão số 3 gây ngập úng trên diện rộng, theo đó có 381 ha lúa bị mất trắng và 6,29 nghìn ha diện tích lúa phải gieo cấy lại. Diện tích gieo cấy lúa hè thu của cả nước cũng chỉ ở mức tương đường cùng kỳ năm trước. Gieo trồng cây hoa màu tháng 9 đạt thấp so với cùng kỳ năm trước do ảnh hưởng của mưa, bão gây ngập úng trên diện rộng.

Hoạt đông chăn nuôi và đánh bắt nuôi trồng thủy sản không có biến động đáng kể. Chăn nuôi lợn phát triển mạnh khi giá lợn hơi tăng kỷ lục, Chăn nuôi trâu, bò và gia cầm nhìn chung ổn định.

2. Cán cân thương mại duy trì thặng dư

Hoạt động xuất, nhập khẩu tháng 9 tiếp tục chịu ảnh hưởng bởi các diễn biến: (1) các động thái trả đũa và gây hấn thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc, là hai đối tác thương mại chính của Việt Nam, dấy lên những lo ngại về hoạt động thương mại của Việt Nam. (2) Tỷ giá USD/VND liên tục điều chỉnh tăng cũng ảnh hưởng nhiều chiều tới bức tranh thương mại Việt Nam. Theo đó, trong tháng 9, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá ước tính đạt 44,63 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 23,21 tỷ USD; kim ngạch nhập khẩu ước đạt 21,42 tỷ USD. Như vậy, Việt Nam xuất siêu trong tháng 9 khoảng 1,8 tỷ USD; qua đó, làm tăng giá trị thặng dư thương mại 9 tháng năm 2018 lên khoảng mức 6,7tỷ USD.

Về xuất khẩu, trong tháng 9, kim ngạch xuất khẩu Việt Nam ước tính đạt 23,21 tỷ USD, giảm (-) 1,15% so với tháng 8 và tăng 20% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu ước tính đạt 178,91 tỷ USD, tăng 15,4% so với cùng kỳ năm 2017 (quý III đạt 64,73 tỷ USD, tăng 13,9%), trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 51,07 tỷ USD, tăng 17,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 127,84 tỷ USD (chiếm 71,5% tổng kim ngạch xuất khẩu), tăng 14,6%. Loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu 9 tháng tăng 14,2% so với cùng kỳ năm 2017.

Về mặt hàng xuất khẩu, do tác động trực tiếp về tỷ giáUSD/VND cùng với sự biến động của các thị trường xuất khẩu chính, giá cả và kim ngạch xuất khẩu của các mặt hàng chủ lực có nhiều thay đổi. Cụ thể: tác động tích cực tới các mặt hàng thuỷ hải sản và nông nghiệp, khi các mặt hàng này ít chịu phụ thuộc vào thị trường nhập khẩu. Ngược lại là dệt may, sắt thép và các mặt hàng linh kiện điện tử,điện thoại lại bị điều chỉnh giảm do phụ thuộc nhiều vào thị trường nhập khẩu.

Về nhập khẩu, tính riêng tháng 9, kim ngạch nhập khẩu của toàn nền kinh tế ước đạt 21,42 tỷ USD, tăng 0,64% so với tháng trước và tăng 17,43% so với cùng kỳ năm trước; nâng tổng kim ngạch nhập khẩu 9 tháng đầu năm lên mức 173,52 tỷ USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước (quý III đạt 62,70 tỷ USD, tăng 16%), trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 69,34 tỷ USD, tăng 11,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 104,18 tỷ USD, tăng 11,9%. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu 9 tháng tăng 10,3% so với cùng kỳ năm 2017.

Cơ cấu nhập khẩu của Việt Nam vẫn tập trung chủ yếu vào các mặt hàng nguyên vật liệu sản xuất như máy móc, phụ tùng và thị trường nhập khẩu vẫn chưa có nhiều thay đổi.

3. Đầu tư từ nguồn NSNN cải thiện so với đầu năm, đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục là điểm sáng trong tháng 9 năm 2018

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn NSNN 3 tháng gần đây đã cải thiện đáng kể so với đầu năm. Theo đó, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước 9 tháng năm 2018 ước đạt 1.253,2 nghìn tỷ đồng, tăng 10,9% so với cùng kỳ năm trước (quý III 507,6 nghìn tỷ đồng, tăng 12,5%), bằng 34% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 420,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 33,6% tổng vốn và tăng 5% so với cùng kỳ năm trước; khu vực ngoài Nhà nước đạt 533,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 42,5% và tăng 17,7%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 299,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 23,9% và tăng 8,4%.. Như vậy, tiến độ giải ngân vốn đầu tư 9 tháng đầu năm 2018 cao hơn so với cùng kỳ năm 2017, tuy nhiên tỷ lệ giải ngân cả nước nhìn chung vẫn còn thấp so với kế hoạch giao. Theo báo cáo mới nhất về giải ngân vốn đầu tư của Kho bạc Nhà nước, có 30/56 bộ, ngành trung ương và 18/63 địa phương có tỷ lệ giải ngân dưới 40% kế hoạch năm. Nguyên nhân chính khiến việc giải ngân vốn đầu tư còn chậm là do vẫn tồn tại bất cập trong thực hiện quy trình, thủ tục đầu tư, thẩm định nguồn vốn và thực hiện kế hoạch giao vốn. Việc chậm cải thiện giải ngân vốn đầu tư phần nào sẽ ảnh hưởng bất lợi đến tăng trưởng GDP của năm 2018

Đối với nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, việc thu hút vốn FDI tiếp tục là điểm sáng trong bức tranh tổng thể của kinh tế vĩ mô 9 tháng đầu năm 2018. Vốn FDI thực hiện 9 tháng đầu năm tăng cao so với cùng kỳ năm trước và ước tính đạt 13,25 tỷ USD, tăng 6% so với cùng kỳ năm 2017 (9 tháng năm 2016 đạt 12,5 tỷ USD).

4. Lạm phát trong tầm kiểm soát

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân quí I tăng 2,82% so với cùng kỳ năm trước, trong khi chỉ số CPI cơ bản bình quân quí I chỉ tăng 1,34%. Nguyên nhân chính gây lạm phát trong quí I chủ yếu là do sự tăng giá của 3 nhóm hàng hoá chính là thuốc và dịch vụ y tế, nhóm giao thông và đồ dùng và dịch vụ khác. Sang quí II, chỉ số CPI bình quân quí II/2018 tăng 3,76% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu là do sự tăng giá của ba nhóm hàng chính là nhóm lương thực, nhóm giao thông và nhóm dịch vụ y tế, kết hợp với việc giá dầu thế giới tăng cao làm tăng áp lực lên lên giá hàng hoá trong nước.

Bắt đầu vào quí III, sau khi CPI giảm nhẹ -0,09% vào tháng 7/2018, sang 2 tháng tiếp theo, do diễn biến thời tiết xấu, giá lương thực thực phẩm tăng cao, thêm vào đó giá dầu thế giới tăng đã làm cho chỉ số CPI tháng 8 đã tăng 0,45%  và con số này tháng 9 là 0,59% so với tháng trước, CPI bình quân quí III đã tăng 4,14% so với cùng kỳ. Tính đến hết tháng 9/2018, chỉ số CPI đã tăng 3,2% so với tháng 12 năm trước và CPI bình quân 9 tháng tăng 3,57% so với cùng kỳ năm trước.

5. Thị trường tài chính tiền tệ có nhiều biến dộng

- Từ cuối tháng 5/2015 các áp lực gia tăng khá mạnh khiến tỷ giá USD/VND liên tục tăng cao. Diễn biến này bắt nguồn từ các nguyên nhân: (1) Biến động của giá USD tại thị trường Việt Nam diễn ra ngay sau khi FED nâng lãi suất đồng USD (0,25 điểm phần trăm lần 2 vào ngày 13-6) và phát tín hiệu sẽ nâng hai lần nữa trong năm 2018, theo đó chỉ số USD Index đã tăng 7% từ mức đáy năm 2018 lên 94,8 điểm, kéo tỷ giá USD/VND tự do tăng mạnh so mức trung bình các tháng trước đó. (2) Tâm lý quan ngại về việc cầu ngoại tệ trong nước ngày càng gia tăng, trong khi thặng dư xuất nhập khẩu, vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài cùng dòng tiền đầu tư của NĐTNN trên thị trường chứng khoán đã chậm lại thời gian gần đây. (3) Ảnh hưởng từ cuộc chiến tranh thương mại giữa Trung Quốc và Mỹ, với việc đồng nhân dân tệ của Trung Quốc giảm mạnh kỷ lục so với đồng USD, buộc NHNN phải có những điều chỉnh phù hợp để tỷ giá diễn biến phù hợp với tình hình thị trường trong nước và quốc tế. Trong tháng 9, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức từ 22.678 - 22.712VND/1USD (tăng 0,5-0,65% so với mức 22.566VND/1USD tại thời điểm cuối tháng 6/2018).

                                        Diễn biến tỷ giá USD/VND trên TT                   Thay đổi tỷ giá trung tâm năm 2018             

                                     Nguồn: Bloomberg market                                                 Nguồn: NHNN

- Về lãi suất, với sự đảm bảo của thanh khoản hệ thống và lạm phát, lãi suất được duy trì ổn định trong khoảng 5 tháng đầu năm, sau đó với hiện tượng thanh khoản hệ thống giảm nhẹ và việc FED tăng lãi suất, lãi suất bình quân trên thị trường liên ngân hàng (LSLNH) tăng ở hầu hết các kỳ hạn chủ chốt, nhất là từ cuối tháng 7, LSLNH có mức tăng khá mạnh với LSLNH các kỳ hạn: qua đêm, 1 tuần và 3 tháng đã lần lượt tăng lên mức 4,69%, 4,80% và 4,08% - mức cao nhất từ đầu năm đến nay. Tuy nhiên, trong tháng 9, lãi suất thị trường liên ngân hàng đã có xu hướng giảm trở lại, xuống mức dưới 4%/năm.

Diễn biến Lãi suất Liên ngân hàng năm 2018

                                                                                                                                              Nguồn: NHNN

6. Thu chi ngân sách Nhà nước được quản lý chặt chẽ, đảm bảo cấn đối với dự toán

Trong 9 tháng đầu năm 2018, Chính phủ đã có những biện pháp tích cực nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải cách môi trường kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi trong thu NSNN. Theo số liệu ước tính, tổng thu NSNN từ đầu năm đến hết 15/09/2018 ước tính đạt 898,3 nghìn tỷ đồng, bằng 68,1% dự toán năm, trong đó thu nội địa 710,1 nghìn tỷ đồng, bằng 64,6%; thu từ dầu thô 43, 5nghìn tỷ đồng, bằng 121,1%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 140,9 nghìn tỷ đồng, bằng 78,7%.

Về chi ngân sách Nhà nước, Chính phủ thể hiện quyết tâm cải cách, quản lý chặt chẽ và đảm bảo cân đối với dự toán và cân đối ngân sách các cấp ngay từ đầu năm 2018. Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/09/2018 ước tính đạt 936,6 nghìn tỷ đồng, bằng 61,5% dự toán năm, trong đó chi thường xuyên đạt 651 nghìn tỷ đồng, bằng 69,2%; chi đầu tư phát triển 192,8 nghìn tỷ đồng, bằng 48,2%; chi trả nợ lãi 79,3 nghìn tỷ đồng, bằng 70,5%. 

----------------------------------------------------------

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Phân tích và dự báo
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Số lượt truy cập : 1097202