Tin Kinh tế- xã hội  > Xã hội

Thách thức bình đẳng giới trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0

Cập nhật lúc: 28/08/2018 10:00:00 AM

Trong cuộc cách mạng (CMCN) 4.0, phụ nữ ngày càng có nhiều đóng góp quan trọng trong nền kinh tế cũng như khẳng định vai trò, vị trí của mình trong xã hội. Sự phát triển không ngừng của công nghệ đã và đang mang lại nhiều tiến bộ về năng suất lao động, hiệu quả kinh doanh và sự thay đổi nhu cầu sử dụng lao động, đến nay lao động nữ trong độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ 45,9% lực lượng lao động(1), trước bối cảnh kỷ nguyên số đòi hỏi người lao động phải có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, trong đó lao động nữ thường thuộc nhóm đối tượng yếu thế những người dễ bị tổn thương rễ bị ảnh hưởng. Cách mạng công nghiệp 4.0 tạo ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra không ít thách thức đối với phụ nữ trong xã hội hiện nay.

  1. Những cơ sở pháp lý để thúc đẩy bình đẳng giới tại Việt Nam

Với mục tiêu hướng tới bình đẳng giới, chúng ta có khung pháp lý vững chắc. Tại Điều 26, Hiến pháp năm 2013. Điều 11, Luật bình đẳng giới quy định bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị. Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2010-2020 đã xác định việc nâng cao quyền năng chính trị cho phụ nữ là mục tiêu hàng đầu. Cụ thể, tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo, nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị. Bình đẳng giới đã được khảng định là việc cả nam và nữ có vị trí, vai trò ngang hàng nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển cộng đồng của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó (Khoản 1,2,3 Điều 5 Luật bình đẳng giới). Mục tiêu bình đẳng giới là xoá bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội và gia đình (Điều 4 Luật bình đẳng giới).

  1. Một số thách thức bình đẳng giới trong cách mạng công nghiệp 4.0

Cách mạng công nghiệp 4.0 cũng là cơ hội lớn cho các nước đang phát triển, nhất là các quốc gia đi sau có thể tiến lên, theo kịp với xu hướng thế giới bằng đi tắt, đón đầu trong đó Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức đối với lực lượng lao động nói chung và lao động nữ nói riêng. Trước mắt, lao động nữ sẽ là đối tượng chịu tác động mạnh mẽ nhất của sự phát triển CMCN 4.0, vì đây là đối tượng có trình độ chuyên môn, kỹ thuật thấp, chủ yếu làm các công việc giản đơn và chịu nhiều rào cản của xã hội, nên họ sẽ rất rễ bị bỏ lại phía sau mà còn phải đối mặt với gánh nặng chính sách đảm bảo an sinh xã hội, họ có nguy cơ mất việc làm, dù chưa đến tuổi nghỉ hưu. Cách mạng công nghiệp 4.0 chỉ mới bắt đầu với những ứng dụng của công nghệ thông tin, điều khiển, tự động hóa. Song, với tình hình chất lượng lao động nữ hiện nay họ sẽ là đối tượng chịu nhiều tác động nhất của CMCN 4.0, họ phải đối mặt với những vấn đề về trình độ chuyên môn, kỹ thuật; và những tác động đến con cái, gia đình, đời sống, cơ hội phát triển nghề nghiệp và bất bình đẳng giới. Cụ thể:

  • Vị thế và cơ hội thấp hơn;  Không có tiếng nói và quyền lực những người phụ nữ thường bị đối xử không công bằng hay bị gạt ra ngoài lề xã hội, do vậy họ thường không có tiếng nói quyết định trong các công việc chung của cộng đồng cũng như công việc liên quan đến chính bản thân họ, không có tiếng nói và quyền lực còn thể hiện ở chỗ những người phụ nữ bị đối xử bất bình đẳng trong chính gia đình họ và cuộc sống phụ thuộc nhiều vào người sung quanh họ không có nhiều quyền quyết định có trình độ học vấn thấp hơn và ít có cơ hội hơn. Tại kỳ họp Quốc hội khóa XIII (2012-2016), có 122 đại biểu quốc hội là nữ, chiếm 24,4% tổng số đại biểu, trong đó có 78 đại biểu (6%) là người dân tộc thiểu số (2) các khoá trước đó số nữ ĐBQH chiếm 27,31% ở khóa XI; 25,76% ở khóa XII. Tỷ lệ này so với mục tiêu của Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị và Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020 vẫn còn một khoảng cách khá xa, đó là đạt 35% trở lên nữ ĐBQH và đại biểu HĐND các cấp của nhiệm kỳ 2016 – 2021.
  • Trình độ chuyên môn, kỹ thuật thấp; Hơn 30 năm qua Việt Nam có lợi thế so sánh về lao động giá rẻ. Với lợi thế này chúng ta thu hút được nguồn vốn FDI từ nước ngoài, góp phần không nhỏ vào tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế. Với sự phát triển của Cách mạng công nghiệp 4.0 các nghành nghề sử dụng nhiều nhân công, đặc biệt là lao động nữ như dệt may, da giầy, chế biến thuỷ sản, lắp ráp linh kiện sẽ dư thừa lao động bởi công nghiệp thông minh, nhà máy thông minh sẽ thay thế lao động thủ thông. Đặc biệt, trong điều kiện Việt Nam thực hiện cách mạng công nghiệp 4.0 thì dự báo tỷ lệ lao động mất việc làm ở 2 ngành dệt may và da giày lên đến hơn 80%; trong khi đó 2 ngành này phần lớn là lao động nữ (3). Việc giảm hoặc mất lợi thế về lao động là một trong những nguyên nhân chính trong việc gia tăng bất bình đẳng làm nới rộng chênh lệch về thu nhập và tài sản giữa một bên là lao động ít kỹ năng hay có kỹ năng rễ bị người máy thay thế đại bộ phận người lao động. Theo báo cáo của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, tỷ lệ lao động nữ làm các nghề đơn giản chiếm 44%, trong khi đó nam giới là 37%; tỷ lệ lao động nữ qua đào tạo chưa đến 20%, nghĩa là lao động nữ không có chuyên môn, kỹ thuật chiếm trên 80%, qua đào tạo nghề cũng chủ yếu là ngắn hạn(4), theo Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam khảo sát, Riêng với lao động nữ, sau khi ra khỏi khu công nghiệp, phần lớn họ lao động ở khu vực phi chính thức, có đến 82,6% đi bán hàng rong; 12,1% làm công việc tự do. Như vậy, trình độ chuyên môn, kỹ thuật có thể coi là thách thức lớn nhất đối với lao động nữ Việt Nam, khi mà CMCN 4.0 ngày càng được ứng dụng nhiều hơn.
  • Ít có cơ hội phát triển; Khoảng cách về giới đặc biệt rõ nét khi xét về khía cạnh loại hình công việc, tỷ lệ nữ giới có việc làm thấp hơn 9% so với nam giới (71% so với 80,6%) (5).  Nhiều phụ nữ phải làm những công việc dễ bị tổn thương (thường không ổn định và ít có bảo hiểm xã hội) hơn so với nam giới. Bên cạnh đó cho thấy phụ nữ phải đối mặt với những khoảng cách đáng kể về chất lượng việc làm trong khi phụ nữ phải làm những công việc gia đình vẫn cao gấp đôi so với nam giới. Tại Việt Nam, vẫn tồn tại định kiến liên quan đến khả năng tham chính và năng lực lãnh đạo của phái đẹp như việc cho rằng phụ nữ thiếu kiên quyết, dứt điểm trong việc ra quyết định; hay quan niệm “nam trưởng, nữ phó” khiến phụ nữ ít được ủng hộ vào các vị trí lãnh đạo có tầm ảnh hưởng lớn. Bên cạnh đó, quan niệm về vai trò giới truyền thống cho rằng, phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong việc nội trợ, bếp núc, chăm sóc con cái, gắn chặt họ với thiên chức của người mẹ, người vợ, người con, khiến vị trí lãnh đạo trên chính trường của họ thường đứng sau nam giới thông thường, họ phải nỗ lực làm việc gấp đôi mới được thừa nhận. Sự khác biệt trong độ tuổi nghỉ hưu giữa nam giới và phụ nữ đã hạn chế sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí lãnh đạo cao cấp, hạn chế cơ hội quy hoạch, bổ nhiệm của phụ nữ.
  • Khoảng cách về thu nhập; Kết quả từ cuộc khảo sát Tổng liên đoàn năm 2016 (6) cho thấy, lao động nữ vẫn còn nhiều thiệt thòi về tiền lương, điều kiện làm việc, cơ hội đào tạo,thăng tiến và việc làm bền vững. Vẫn tồn thại khoảng cách khá lớn về trình độ chuyên môn kỹ thuật giữa lao động nam và nữ. Trong khi tỷ lệ nữ đã qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật chỉ đạt 26,45% thì tỷ lệ tương ứng của nam là 45,04%, mức chênh lệch lên tới 18,59%. Tiền lương bình quân/tháng của lao động nữ là 4,7 triệu đồng/tháng so với thu nhập bình quân/tháng của lao động nam là 5,17 triệu đồng/tháng. Khoảng cách về giới đặc biệt rõ nét khi xét về khía cạnh loại hình công việc, nhiều phụ nữ phải làm những công việc dễ bị tổn thương (thường không ổn định và ít có bảo hiểm xã hội) hơn so với nam giới, tỷ lệ lao động tự làm và lao động gia đình không được trả lương ở nữ giới cao hơn nam giới tới 12,4%. Trong nhóm lao động làm công ăn lương, thu nhập từ việc làm hàng tháng trung bình của nam giới cao hơn phụ nữ 10,7% , điều này cho thấy một yếu tố quan trọng dẫn đến khoảng cách giới về thu nhập là xu hướng của phụ nữ làm việc trong các ngành nghề có thu nhập thấp hơn so với nam giới.
  • Dễ bị tổn thương; những nguy cơ mà người nghèo phải đối mặt với nhiều rủi ro như bị ngược đãi, đánh đập thiên tai, bị buộc thôi việc phải nghỉ học những rủi ro mà phụ nữ phải đối mặt là nguyên nhân khiến họ rẽ bị tổn thương, những người phụ nữ ít có tài sản thu nhập thấp họ chỉ có thể trang trải hạn chế tối thiểu các nhu cầu cuộc sống. Vì vậy khi rủi ro họ rất rễ bị tổng thương và khó vượt qua những cú sốc có hại, những cú sốc mang tính tạm thời mà người có điều kiện rễ ràng vượt qua được, vì vậy họ thường phải bỏ thêm các chi phí không đáng có hoặc giảm thu nhập. Chính điều này làm họ sống tách biệt với xã hội bị cô lập với guồng quay của thị trường do vậy cuộc sống của họ càng trở lên nghèo khó hơn. So với nam giới, gánh nặng công việc không được trả công đã hạn chế khả năng tiếp cận của phụ nữ đến các cơ hội kinh tế và năng lực tham gia của họ vào các công việc được trả công, trong số 7,8 triệu lao động nữ đang làm việc trong khu vực phi chính thức với điều kiện lao động không đảm bảo (7), tỉ lệ lao động nữ trong khu vực phi chính thức phải làm công việc dễ bị tổn thương lên tới 59,6%, cao hơn nhiều so với mức 31,8% của lao động nam trong khu vực phi chính thức. Điều này khiến họ trở nên dễ bị tổn thương, do có rất ít cơ hội đảm bảo thu nhập và năng suất lao động.

 


(1)Tính hết năm 2017 (Tổng cục thống kê)

(2) Số liệu từ Quốc hội

(3) Hội nghị toàn quốc về phát triển bền vững 2018.

(4)Chất lượng lao động nữ - thách thức khi hội nhập, Báo dân sinh năm 2016.

(5)Theo báo cáo Điều tra Lao động Việc làm quốc gia mới nhất (2016).

(6) Báo cáo kết quả khảo sát về tăng trưởng vai trò của công đoàn trong thúc đẩy bình đẳng giới và bảo vệ quyền lao động nữ, 2016.

(7) Báo cáo “Phụ nữ, việc làm và tiền lương: Tổng quan về lao động nữ tại Việt Nam” của Mạng lưới Hành động vì lao động di cư Việt Nam (M.net)

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ths. Đặng Đức Anh (Ban Tổng hợp)
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202