Giới thiệu

Tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam 6 tháng đầu năm 2018

Cập nhật lúc: 06/07/2018 11:00:00 AM

1.Tăng trưởng

Tăng trưởng tiếp tục ghi nhận các dấu hiệu tích cực. Kế thừa đà tăng trưởng ấn tượng từ quý I/2018, tình hình kinh tế trong quý II tiếp tục cải thiện so với cùng kỳ. GDP quý II/2018 ước tăng 6,79% so với cùng kỳ, nâng tăng trưởng 6 tháng đầu ước đạt ở mức 7,08%.

Hình 1. Tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm giai đoạn 2015-2018 (%)

                                                                                                                                                     Nguồn: TCTK

Về phía cung, sự tăng trưởng đồng đều của 3 khu vực đã tạo thế kiềng 3 chân vững chắc giúp thúc đẩy tăng trưởng toàn nền kinh tế. Đặc biệt nổi bật là sự tăng trưởng cao của khu vực công nghiệp và xây dựng, ước tính đạt mức 9,28% so với cùng kỳ 6 tháng năm 2017. Trong đó riêng ngành công nghiệp chế biến chế tạo có mức tăng ấn tượng 13,02%, (chiếm tỷ trọng 16% và đóng góp đến 2,45 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế). Trong khu vực dịch vụ, ngành bán buôn và bán lẻ tiếp tục đóng góp lớn nhất, các ngành dịch vụ khác duy trì mức tăng trưởng ổn định. Đặc biệt dịch vụ lưu trú, ăn uống có mức tăng và đóng góp khá cao so cùng kỳ năm 2017 (tăng 7,02% và đóng góp 0,33 điểm % vào tăng trưởng chung). Bên cạnh các yếu tố tích cực từ khu vực CNXD và khu vực dịch vụ, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản trong nửa đầu năm 2018 cũng đạt mức tăng trưởng bứt phá, và có đóng góp cao nhất trong vòng hơn 6 năm trở lại đây. Đặc biệt, khu vực này còn chứng kiến xu hướng chuyển đổi cơ cấu sản phẩm trong nội bộ ngành nông nghiệp theo hướng đầu tư vào những sản phẩm có giá trị kinh tế cao.

Về phía cầu, sức cầu trong nước tiếp tục được cải thiện, tăng trưởng tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 6 tháng đầu năm tiếp tục tăng mạnh (đạt xấp xỉ 10%, loại trừ yếu tố giá đạt xấp xỉ mức 8,3%, thương mại, nhất là kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh (16% so cùng kỳ) và đầu tư (giải ngân FDI) tăng khá (7,2% so cùng kỳ).

2.Đầu tư

Nửa đầu năm 2018, Chính phủ tiếp tục thực hiện các giải pháp huy động nguồn lực đầu tư trong xã hội và đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn ngân sách nhà nước. Ước tính sáu tháng đầu năm 2018, tổng vốn đầu tư thực hiện phát triển toàn xã hội đạt 747,8 nghìn tỷ đồng, tăng khoảng 10,1% so với cùng kỳ năm trước và bằng 32,9% GDP.

Hình 2. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội 6 tháng đầu năm

 

(*) Ước tính

Về khu vực đầu tư Nhà nước: tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực kinh tế Nhà nước trong tổng số vốn đầu tư phát triển toàn xã hội duy trì ở mức 33,41% trong 6 tháng đầu năm 2018. Tuy nhiên, giải ngân vốn đầu tư công còn chậm, ước tính thanh toán vốn đầu tư phát triển từ nguồn NSNN (bao gồm TPCP) trong 5 tháng đầu năm là hơn 94.108 tỷ đồng, đạt 23,54% so với kế hoạch Quốc hội giao và đạt 24,5% so kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Đáng chú ý, việc giải ngân vốn của các bộ ngành ở cấp trung ương quản lý vẫn chưa đến 30% kế hoạch năm.

Về khu vực đầu tư ngoài Nhà nước: vốn đầu tư phát triển của khu vực ngoài nhà nước 6 tháng đạt mức khá cao 308,4 nghìn tỷ đồng (chiếm 41,25% tổng số vốn phát triển toàn xã hội). Tiếp tục đà cho năm 2018, theo Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 01/01/2018, Chính phủ khuyến khích đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, phát triển doanh nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đặt mục tiêu tăng tỷ trọng vốn đầu tư tư nhân trong tổng đầu tư phát triển toàn xã hội lên khoảng 41%.

Về khu vực có vốn đầu tư nước ngoài: vốn đầu tư phát triển của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 6 tháng đầu năm 2018 ước tính đạt 189,4 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 25,3% tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội. Đáng chú ý, kết quả giải ngân vốn FDI đạt khả quan ở mức 8,37 tỷ USD (tăng 8,4% so với cùng kỳ), Tuy nhiên, các nhà đầu tư nước ngoài đang có xu hướng tăng cường M&A, nhằm nhanh chóng tiếp cận thị trường, hạn chế rủi ro khi được kế thừa lượng khách hàng ổn định của doanh nghiệp trong nước,…

3.Thương mại quốc tế

Thương mại quốc tế tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tốt, cán cân thương mại hàng hóa tiếp tục thặng dư

Sau 4 tháng liên tiếp xuất siêu với giá trị xuất siêu ngày càng tăng, thương mại quốc tế hai chiều của Việt Nam bất ngờ nhập siêu trở lại trong 2 tháng gần đây, làm giảm tổng mức xuất siêu hàng hoá của toàn nền kinh tế trong 6 tháng đầu năm. Tuy nhiên, tính chung 6 tháng đầu năm 2018, Việt Nam vẫn đang ở mức thặng dư thương mại hàng hóa với mức xuất siêu lên tới 2,71 tỷ USD, mức xuất siêu lớn nhất trong vòng 5 năm trở lại đây, tương đương với 2,6% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Theo đó, 6 tháng đầu năm, tổng kim ngạch thương mại hàng hoá hai chiều của Việt Nam ước đạt 225,58 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu hàng hoá đạt 113,93 tỷ USD, tăng 16% so với cùng kỳ năm trước; kim ngạch nhập khẩu hàng hoá ước đạt 111,3 tỷ USD, tăng 10,51% so với cùng kỳ năm trước.

Hình 3. Kim ngạch thương mại và cán cân thương mại hàng hoá của Việt Nam 6 tháng đầu năm giai đoạn 2012- 2018 (Đơn vị: Tỷ USD)

                                                                                                 Nguồn: Tổng cục hải quan; 2018* - số ước tính

Tuy khu vực thương mại tăng trưởng khá tốt trong 6 tháng đầu năm, nhưng tăng trưởng theo tháng đang có xu hướng giảm dần. Sau khi tăng trưởng mạnh mẽ trong tháng 1 với tốc độ tăng trưởng lần lượt lên tới hơn 40% đối với xuất khẩu và nhập khẩu, tăng trưởng chung của khu vực thương mại đã giảm nhiệt trong tháng 2 do yếu tố thời vụ - mùa Tết. Sau đó, lực bật xuất khẩu đã xuất hiện trở lại khi Samsung ra mắt điện thoại cao cấp S9 và S9+. Tuy nhiên, sau khi tăng mạnh trong tháng 3, tốc độ tăng trưởng thương mại của 4 tháng tiếp theo chỉ đang ở quanh mức 14%, thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng trong quý I.

4.Thu – chi ngân sách

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến hết tháng 6/2018 ước tính đạt 629 nghìn tỷ đồng, bằng 47,7% dự toán năm, trong đó thu nội địa đạt 491 nghìn tỷ đồng, bằng 44,7% dự toán năm, thu từ dầu thô đạt 29 nghìn tỷ đồng, bằng 81% dự toán năm; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 108 nghìn tỷ đồng, bằng 60,4%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 72 nghìn tỷ đồng, bằng 43,2% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 89 nghìn tỷ đồng, bằng 40%; thu thuế thu nhập cá nhân 53,6 nghìn tỷ đồng, bằng 55,2%.

Tốc độ tăng thu ngân sách năm 2018 là 11,67% so với cùng kỳ năm 2017, thấp hơn con số 16,14% của năm 2017 nhưng cao hơn so với 02 năm 2015 (7,86%) và 2016 (8,75)%. Về thu nội địa cũng cho thấy giá trị tăng thu cao hơn so với cùng kỳ năm 2017 nhưng tốc độ tăng thu so với cùng kỳ chỉ đạt 11,59%, thấp hơn con số của năm 2017 (14,16%), 2016(20,44%) và 2015 (17%).

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến hết tháng 6/2018 ước tính đạt 638 nghìn tỷ đồng, bằng 41,89% dự toán năm, trong đó chi thường xuyên đạt 465,5 nghìn tỷ đồng, bằng 49,5%; chi đầu tư phát triển đạt 112,3 nghìn tỷ đồng, bằng 28,1%; chi trả nợ lãi 57,8 nghìn tỷ đồng, bằng 51,4%.

Ước thực hiện thu ngân sách cả năm 2018 đạt khoảng 136 nghìn tỷ đồng, tăng 3,6% so với dự toán, trong đó các khoản mục thu vượt lớn so với dự toán năm bao gồm thu từ dầu thô, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu và thu thuế thu nhập cá nhân.

5.Lạm phát

Lạm phát đang có dấu hiệu tăng trở lại nhưng vẫn trong tầm kiểm soát. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) 6 tháng đầu năm đã tăng 4,67% so với cùng kỳ năm trước, trong khi đó chỉ số CPI cơ bản 6 tháng chỉ tăng 1,37%. Nguyên nhân chính gây ra lạm phát trong 6 tháng đầu năm chủ yếu là do sự tăng giá của một số nhóm hàng hoá chính là lương thực, thuốc và dịch vụ y tế, nhóm giao thông và giáo dục (xem hình vẽ dưới đây).

Hình 4. Diễn biến CPI chung và thành phần 6 tháng đầu năm

                                                                                                                                                       Nguồn: GSO

Tính chung 6 tháng đầu năm CPI bình quân đã tăng 3,29% so với cùng kỳ và CPI cơ bản  bình quân 6 tháng đầu năm ước tăng1,35% so với cùng kỳ.

Có thể nhận thấy với tình hình tín dụng 6 tháng đầu năm không có nhiều biến động, thì lạm phát 6 tháng đầu năm là do chi phí đẩy và chủ yếu là do một số nhóm mặt hàng đang trong lộ trình tăng giá như giá dịch vụ y tế, giáo dục.

6.Tiêu dùng dân cư

Tiêu dùng dân cư tiếp tục tăng ổn định nhờ những cải thiện trong thu nhập và tiếp cận tín dụng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tháng 6 đạt 364,5 nghìn tỷ đồng, tăng 1,9% so với tháng trước. Theo đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ 6 tháng đầu năm đạt 2.120,9 nghìn tỷ đồng, tăng 10,7% so với cùng kỳ trước, (8,3% nếu loại trừ yếu tố giá). Tốc độ tăng trưởng của bán lẻ hàng hóa và dịch vụ vẫn đang theo đà tăng mạnh của nửa cuối năm trước, mặc dù ghi nhận mức độ tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước nhưng một phần là do mặt bằng tổng mức đạt được những tháng đầu năm 2017 ở mức thấp so với cùng kỳ từ năm 2015 trở lại đây.

Hình 5. Tổng mức bán lẻ và dịch vụ cộng dồn theo tháng (%)

                                                                                          Nguồn:TCTK, tháng 6/2018 là số ước của tác giả 

7.Doanh nghiệp

Trong 6 tháng đầu năm 2018, cả nước có 64.531 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 648.967 tỷ đồng, tăng 5,3% về số doanh nghiệp và tăng 8,9% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2017. Sự phát triển mạnh mẽ số lượng doanh nghiệp khởi nghiệp gia nhập thị trường trong thời gian gần đây, bên cạnh triển vọng kinh doanh khả quan, còn cho thấy niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp được cải thiện mạnh mẽ sau những cam kết mạnh mẽ của Chính phủ trong việc cải thiện môi trường đầu tư, cắt giảm thủ tục đăng ký kinh doanh cũng như tạo hành lang pháp lý cho doanh nghiệp.

Tỷ trọng vốn đăng ký bình quân trên một doanh nghiệp trong 6 tháng đầu năm 2018 đạt 10,1 tỷ đồng, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm ngoái.

Số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới trong 6 tháng đầu năm nay là 508.542 lao động, giảm 18,9% so với cùng kỳ năm ngoái.           

Hình 6. Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và số vốn đăng ký 6 tháng đầu năm 2013 – 2018

                                                                                                             Nguồn: Cục Quản lý đăng ký kinh doanh

Số doanh nghiệp tạm ngừng sản xuất kinh doanh vẫn chiếm số lượng lớn và đang trong xu hướng tăng thể hiện sự khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhất là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong 6 tháng đầu năm 2018, số lượng doanh nghiệp tạm dừng sản xuất kinh doanh trong cả nước là 52.803 doanh nghiệp, tăng 39,3% so với cùng kỳ năm ngoái.  

Hoạt động doanh nghiệp đầu tư nước ngoài

Theo Cục đầu tư nước ngoài, tính đến ngày 20/6/2018, cả nước có 1.366 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký là 11,8 tỷ USD, bằng 99,7% so với cùng kỳ năm 2017; có 507 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 4,43 tỷ USD, bằng 86,2% so với cùng kỳ năm 2017. Ước tính các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngân được 1,7 tỷ USD, tăng 9,7% so với cùng kỳ năm 2017..

Các nhà ĐTNN đã đầu tư vào nhiều ngành trong hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân, trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là lĩnh vực thu hút được nhiều sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đạt 7,91 tỷ USD, chiếm 38,9% tổng số vốn đầu tư đăng ký. Lĩnh vực hoạt động kinh doanh bất động sản đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư 5,54 tỷ USD. Đứng thứ ba là lĩnh vực bán buôn, bán lẻ với tổng vốn đầu tư đăng ký 1,5 tỷ USD, chiếm 7,4% tổng vốn đầu tư đăng ký.

8.Lao động, an sinh xã hội

Lực lượng lao động vẫn tiếp tục tăng khá, ước hai quý đầu năm 2018 tăng 594 nghìn người, đạt 55,1 triệu người. Ước tính số lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm trong nửa đầu năm 2018 đạt khoảng 54 triệu người (tăng 620 nghìn so với cùng kỳ năm trước). Mức tăng việc làm cao hơn mức tăng lực lượng lao động là do sự mở rộng của khối doanh nghiệp. Với 64.531 doanh nghiệp được thành lập mới trong nửa đầu năm, 508,5 nghìn việc làm đã được tạo ra, giúp gia tăng số lượng lao động có việc làm.

Số người từ 15 tuổi trở lên thất nghiệp ước khoảng 1100 nghìn người, giảm khoảng 35 nghìn người so với cùng kỳ năm 2017. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi lao động quý II/2018 ước khoảng 2,2%, giảm nhẹ so với cùng kỳ các năm trước[1]. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi của quý II cũng thấp hơn cùng kỳ các năm trước[2]

Tuy nhiên, tình trạng sa thải lao động sau tuổi 35 tại nhiều khu công nghiệp đang nổi lên như một trong những vấn đề nhức nhối.[3] Nguy cơ này đặc biệt cao với những lao động (đặc biệt là lao động nữ) làm việc trong điều kiện khắc nghiệt, cường độ lao động cao, khó tiếp thu công nghệ mới sau tuổi 35 khi sức khỏe và độ nhanh nhạy giảm dần.[4] Lao động sau khi bị sa thải (với lý do tái cơ cấu) hoặc phải tự nghỉ việc (do điều kiện làm việc khắc nghiệt) thường làm công việc tự do, buôn bán, nội trợ gia đình, làm ruộng. Đây là vấn đề nghiêm trọng, ảnh hưởng tới thị trường lao động, sức sản xuất của nền kinh tế và an sinh xã hội.

 


[1] quý II/2015: 2,42%; quý II/2016: 2,29% và quý II/2017: 2,26%.  

[2] quý II/2016: 1,55%; quý II/2017: 1,62% và quý II/2018: 1,5%.

[3] Khảo sát năm 2017 của Viện Công nhân và Công đoàn cho thấy có tình trạng sa thải lao động lớn tuổi tại 64 doanh nghiệp ở các khu công nghiệp. Bình quân độ tuổi của công nhân trong các doanh nghiệp ở khu công nghiệp, khu chế xuất là 31,2 tuổi, thời gian làm việc trung bình là 6 - 7 năm. 

[4] Nguy  cơ sa thải này đặc biệt cao với người lao động trong ngành dệt may, da giày, điện tử là bởi thời gian đào tạo nghề nhanh (3-6 tháng), nhiều công đoạn có thể thay thế sức người bằng thiết bị công nghiệp. Trích lời bà Nguyễn Thị Lan Hương, trong Hồng Minh (2018).

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Phân tích và dự báo
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202