Tin Kinh tế- xã hội  > Xã hội

Nâng cao chất lượng lao động trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0

Cập nhật lúc: 16/05/2018 03:10:00 PM

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư là sự ra đời của hàng loạt công nghệ mới, kết hợp tất cả các kiến thức trong lĩnh vực kỹ thuật số, sinh học, vật lý và ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực, nền kinh tế, các ngành kinh tế và ngành công nghiệp. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 sẽ tác động ngay đến các nước phát triển như Mỹ, Đức, Canađa và các nước tiên tiến ở châu Âu với các hệ quả: Chi phí sản xuất giảm xuống, hàng hóa trở nên rẻ hơn; nhiều người bị mất việc làm vì sản xuất được tự động hóa một cách triệt để; nhiều ngành truyền thống sẽ thất thu do thay đổi về phương thức và công cụ sản xuất. Ở các nước đang phát triển, công nghệ cũ sẽ tiếp tục tràn sang, mức độ ô nhiễm môi trường sẽ tăng cao, những việc nặng nhọc và nguy hiểm cần có sự hiện diện của con người được duy trì và gia tăng. Các ngành thủy sản, chăn nuôi truyền thống rất khó cạnh tranh do thực phẩm nhập khẩu có giá rất rẻ và an toàn. Những yếu tố mà các nước đang phát triển coi là có ưu thế như lực lượng lao động trẻ, dồi dào sẽ không còn là thế mạnh, thậm chí bị đe dọa nghiêm trọng.

Với nền kinh tế năng động và dễ thích ứng như Việt Nam, sáng tạo, công nghệ mới là cơ hội, là động lực dẫn dắt tạo nguồn tăng trưởng cho tương lai. Chính vì vậy, Chính phủ đã có Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 04/05/2017 về việc tăng cường năng lực tiếp cận Cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Thời cơ cũng là thách thức, muốn nắm bắt và tận dụng được thời cơ, chúng ta cần xác định đúng được những thách thức đối với nền sản xuất của Việt Nam để chủ động thay đổi và thích ứng, trước hết cần bắt đầu từ lực lượng lao động, tập trung và dài hạn cho nguồn lực con người, nhằm nâng cao kiến thức, tay nghề kĩ thuật.

Theo dự báo, từ nay đến năm 2025, lực lượng lao động Việt Nam tăng 1,28%/năm; lực lượng lao động xã hội sẽ tăng từ gần 55 triệu người năm 2017 lên 62 triệu người vào năm 2025. Tuy nhiên, thị trường lao động, việc làm của nước ta vẫn tồn tại những điểm hạn chế: cơ cấu lao động còn khá lạc hậu; dư thừa lao động trong nông nghiệp, nông thôn với chất lượng lao động thấp, phân bổ chưa hợp lý;  số lao động làm việc trong các nghề giản đơn, không đòi hỏi chuyên môn kỹ thuật còn rất cao. Trong khi đó, cuộc Cách mạng 4.0 sẽ phân hoá mạnh mẽ giữa nhóm lao động có kỹ năng thấp và nhóm lao động có kỹ năng cao, một số ngành nghề cũ sẽ mất đi không chỉ đe dọa việc làm của những lao động trình độ thấp mà ngay cả lao động có kỹ năng bậc trung (trung cấp, cao đẳng) cũng sẽ bị ảnh hưởng, nếu như họ không được trang bị đầy đủ những kỹ năng mới, kỹ năng sáng tạo để đáp ứng đòi hỏi của nền kinh tế 4.0.

Một số hạn chế về chất lượng lao động hiện nay

Tính đến năm 2017, lực lượng lao động trong độ tuổi lao động cả nước ước tính là 48,2 triệu người, trong đó lực lượng lao động có trình độ chuyên môn là khoảng 12 triệu người. Theo các chuyên gia của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), lao động Việt Nam nhìn chung còn thiếu chuyên môn, chưa được đào tạo nghề kỹ càng, các kỹ năng được trang bị không phù hợp với đòi hỏi của thị trường và nhiều lao động phải đào tạo lại. Nhân sự cao cấp của Việt Nam so với các nước trong khu vực vẫn còn khoảng cách khá lớn. Trình độ lao động của Việt Nam còn hạn chế về kỹ năng nghề đang gây khó khăn trong việc tiếp thu ứng dụng, trình độ khoa học công nghệ khi tham gia hội nhập.

Chất lượng lao động thấp chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, cơ cấu ngành nghề đào tạo còn nhiều bất cập. Nguồn cung lao động ở Việt Nam hiện nay luôn xảy ra tình trạng thiếu nghiêm trọng lao động kỹ thuật có trình độ cao, lao động trong một số ngành dịch vụ (như ngân hàng, tài chính, thông tin - viễn thông, du lịch…) và công nghiệp mới. Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay mới chỉ đạt 3,39 trên 10 điểm. Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề còn thấp, kỹ năng, tay nghề, thể lực và tác phong lao động công nghiệp còn yếu nên khả năng cạnh tranh của lao động Việt Nam thấp. Bên cạnh đó, có một nghịch lý tồn tại là lực lượng lao động qua đào tạo của Việt Nam đang thiếu những người đáp ứng được yêu cầu công việc nhưng lại thừa những người không làm được việc. Kỷ luật lao động của người lao động Việt Nam nói chung chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra của quá trình sản xuất công nghiệp. Một bộ phận người lao động hiện nay chưa được tập huấn về kỷ luật lao động công nghiệp. Phần lớn lao động xuất thân từ nông thôn, nông nghiệp, mang nặng tác phong sản xuất của một nền nông nghiệp tiểu nông, tùy tiện về giờ giấc và hành vi. Người lao động chưa được trang bị các kiến thức và kỹ năng làm việc theo nhóm, không có khả năng hợp tác và gánh chịu rủi ro, ngại phát huy sáng kiến và chia sẻ kinh nghiệm làm việc.

Rào cản hạn chế quá trình dịch chuyển lao động: Phần lớn lao động di cư chỉ đăng ký tạm trú, không có hộ khẩu, gặp khó khăn về nhà ở, học tập, chữa bệnh và các phúc lợi xã hội khác nên đa số người dân di cư sống tạm bợ, chật chội, vệ sinh môi trường rất kém, an ninh trật tự và an toàn xã hội không được đảm bảo; trình độ học vấn của lao động di cư thấp, bên cạnh đó họ ít có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản. Tình trạng trên dẫn đến hậu quả là nguồn cung lao động chưa đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của các vùng, các khu công nghiệp, khu chế xuất.

Nâng cao chất lượng lao động trong cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0

Trước những thách thức đó, để góp phần giải quyết những vấn đề tồn tại, khó khăn của lao động Việt Nam cũng như đảm bảo việc làm bền vững cần tập trung triển khai những giải pháp sau:

- Đối với cơ quan quản lý:

Tập trung rà soát, điều chỉnh quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với chiến lược phát triển quốc gia; xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển nguồn nhân lực theo hướng giảm dần lao động không có bằng chuyên môn kỹ thuật tham gia hoạt động trong nền kinh tế, từ đó điều chỉnh chiến lược đào tạo nghề, cơ cấu lại hệ thống giáo dục nghề nghiệp, chú trọng đào tạo nghề dài hạn có sự phân tầng chất lượng, ưu tiên đào tạo những nghề mũi nhọn đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đẩy mạnh công tác hướng nghiệp, phân luồng học sinh sau trung học.

Thay đổi chính sách đầu tư cho công tác dạy nghề theo hướng giảm dần bao cấp; có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp, xã hội đầu tư vào đào tạo nghề. Đổi mới chính sách tiền lương, chế độ bảo hiểm theo hướng nâng cao cho các ngành lao động nặng nhọc, những công nhân có tay nghề cao, từ đó thu hút phần lớn lao động đi học nghề và tạo động lực để lao động tích cực học tập nâng cao tay nghề.

Hoàn thiện các cơ chế, chính sách nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, có cơ chế phối hợp, liên kết giữa cơ sở đào tạo, nhất là các cơ sở giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp cùng tham gia đào tạo nghề. Hoàn thiện các cơ chế chính sách về phát triển đội ngũ giáo viên, trong đó, đặc biệt chú trọng tới đổi mới việc tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng cho giáo viên.

Đổi mới cơ cấu hệ thống giáo dục - đào tạo trên cơ sở khung trình độ quốc gia, tiêu chuẩn kỹ năng nghề nghiệp, tiêu chuẩn kỹ năng mềm phù hợp với bối cảnh đất nước và xu thế các nước trong khu vực và trên thế giới.

- Đối với các cơ sở đào tạo:

Các cơ sở đào tạo phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp; trước hết các doanh nghiệp phải tham gia xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng và tiêu chuẩn năng lực nghề, tích cực tham gia vào quá trình đào tạo theo các cấp độ khác nhau tùy theo năng lực của doanh nghiệp. Mở rộng hình thức đào tạo nghề trong các doanh nghiệp theo mô hình kép kết hợp giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo, từ đó giảm dần mua sắm thiết bị cho các cơ sở đào tạo.

Phát triển ngành tự động hóa, đồng thời đầu tư cho các nhóm nghiên cứu sâu về các lĩnh vực kỹ thuật số, công nghệ thông tin, năng lượng và vật liệu mới, công nghệ sinh học…

Đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu công nghệ, phương tiện dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và quản lý đào tạo. Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, gắn nghiên cứu với các hoạt động chuyển giao tại cơ sở.

- Đối với người lao động:

Người lao động cần tìm hiểu thị trường lao động để có thể hiểu rõ hơn các tiêu chuẩn nghề nghiệp nhằm có kế hoạch thích nghi. Tham gia các khóa đào tạo kỹ năng, tay nghề, rèn luyện thể lực, cường độ và năng suất lao động nhằm rèn luyện các loại kỹ năng cần thiết và cập nhật thông tin để thích nghi với điều kiện lao động mới.

Chủ động tự trang bị kiến thức cơ bản trong thời kỳ công nghệ số để tìm kiếm thông tin, tích lũy kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và nâng cao ngoại ngữ nhằm đáp ứng tốt nhất yêu cầu của thị trường lao động.

---------------------

Tài liệu tham khảo:

  1. https://baomoi.com/cach-mang-cong-nghe-4-0-nhung-thach-thuc-cho-nguoi-lao-dong/c/24735034.epi
  2. http://gso.gov.vn/default.aspx?tabid=621&ItemID=18668
  3. https://laodong.vn/xa-hoi/chat-luong-nhan-luc-viet-nam-hien-chi-dat-339-tren-10-diem-579840.ldo

 

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: ThS. Đặng Đức Anh (Ban Tổng hợp)
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Số lượt truy cập : 1097202