Phân tích và Dự báo > Báo cáo tháng

Đánh giá tình hình kinh tế - xã hội trong nước tháng 2/2018 và dự báo trong thời gian tới

Cập nhật lúc: 06/03/2018 08:26:00 AM

1. Tình hình kinh tế xã hội trong nước tháng 2 và hai tháng đầu năm 2018

a. Tăng trưởng kinh tế tiếp tục có dấu hiệu tích cực trên cả ba khu vực kinh tế:

Khu vực nông, lâm, thủy sản tiếp tục phát triển. Sản xuất nông nghiệp trong tháng tập trung chủ yếu vào gieo cấy, chăm sóc lúa đông xuân và gieo trồng cây hoa màu trên cả nước. Sản xuất lâm nghiệp trong tháng tập trung chủ yếu vào chăm sóc, khoanh nuôi tái sinh, bảo vệ rừng. Thời tiết tương đối thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy sản. Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước tính tăng 5,2 % so với cùng kỳ; Sản lượng thủy sản khai thác ước tính giảm 0,8 % so với cùng kỳ năm trước.

Sản xuất công nghiệp duy trì đà tăng trưởng khá. Khu vực công nghiệp và xây dựng tiếp tục xu hướng cải thiện. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) toàn ngành công nghiệp tháng 2/2018 ước tăng 10,7% so với cùng kỳ (so với tháng trước giảm 17,1%  do tháng Hai năm nay trùng với kỳ nghỉ Tết Nguyên đán nên số ngày làm việc ít hơn. Tính chung 2 tháng đầu năm 2018, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 15,2% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn nhiều mức tăng 2,4% của cùng kỳ năm 2017.

Hình. Diễn biến chỉ số sản xuất công nghiệp hàng tháng (so với cùng kỳ)

                                                                                Nguồn: Tổng cục Thống kê, và ước tính của NCIF (tháng 2/2018)

Tình trạng cầu tích cực cũng được nêu bật ở các thị trường xuất khẩu, từ đó giúp số lượng đơn đặt hàng mới từ nước ngoài tiếp tục tăng. Tăng trưởng sản xuất còn được hỗ trợ bởi mức tăng đáng kể của hoạt động mua hàng, và là mức tăng nhanh nhất trong 13 tháng. Điều này cũng là tiền đề để lĩnh vực sản xuất tiếp tục tiếp tục tăng trưởng lạc quan trong những tháng tiếp theo.

Hoạt động dịch vụ sôi động.Do tháng 2/2018 là thời điểm Tết Nguyên đán nên các hoạt động bán buôn, bán lẻ; dịch vụ lưu trú, ăn uống sôi động do người dân gia tăng mua sắm và xu hướng đi du lịch vào dịp Tết.

b. Lạm phát tăng cao

So với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng của tháng 2 năm 2018 đã tăng 0,73%; mức tăng cao hơn so với tháng trước. Nguyên nhân chủ yếu là do theo quy luật hàng năm mặt bằng  giá thị trường chịu tác động bởi nhu cầu mua sắm hàng hóa trong dịp tết Nguyên Đán, giá thực phẩm đã tăng 1,7%; lương thực tăng 1,4%; giao thông tăng 0,79% so với tháng trước mặc dù giá xăng dầu trong nước đã được điều chỉnh giảm theo giá thế giới.  Hết hai tháng đầu năm chỉ số CPI đã tăng 1,24% so với tháng 12 năm trước và tăng 3,15% so với cùng kỳ.

c. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện khá

Trong tháng 2 và 2 tháng đầu năm, Chính phủ tích cực thực hiện các giải pháp nhằm huy động nguồn lực đầu tư trong xã hội và triển khai nhanh, quyết liệt công tác phân bổ, giao kế hoạch vốn đầu tư công; đẩy nhanh tốc độ thực hiện và giải ngân ngay từ những tháng đầu năm, nhất là các công trình hạ tầng bị thiệt hại do thiên tai, dự án hạ tầng quan trọng. Theo đó, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước 2 tháng đầu năm ước tính đạt 29,076 nghìn tỷ đồng, tăng 6% so với cùng kỳ năm trước.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 2 tháng đầu năm 2018 đạt khá, ước tính đạt 1.700 triệu USD, tăng 9,7% so với cùng kỳ năm 201.

d. Tiêu dùng tháng 2 giảm nhẹ

Do sức mua tăng mạnh tháng 1 để chuẩn bị cho Tết nguyên đán, sang tháng 2 sức mua giảm nhẹ. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tháng 2 ước đạt 350,4 nghìn tỷ đồng, giảm 0,9% so với tháng trước, như vậy cả 2 tháng đầu năm ước tăng 704 nghìn tỷ đồng, tăng 10,1% so với cùng kỳ (tương ứng mức 8,7% sau khi loại trừ yếu tố giá). Mức tăng này tương đối khá so với mức 5,6% của cùng kỳ năm trước. Trong hai tháng đầu năm, mặc dù giá cả tăng gây áp lực đến sức mua nhưng các giải pháp kiểm soát và bình ổn thị trường phát huy hiệu quả. Hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại lớn tiếp tục là những địa điểm thu hút người tiêu dùng do nguồn gốc, xuất xứ, thương hiệu cũng như các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm và giá cả bình ổn. Nhiều siêu thị mở cửa sớm và đóng cửa muộn trong tuần lễ mua sắm Tết cao điểm khiến nguồn hàng cung cấp ra thị trường không bị gián đoạn. Do đợt nghỉ tết kéo dài, nhu cầu đi lại và du lịch tăng mạnh trong và trong cuối tháng 2, ước doanh thu dịch vụ du lịch cả 2 tháng đạt 7,4 nghìn tỷ đồng, tăng 38% so với cùng kỳ.

e. Thương mại quốc tế tháng hai giảm nhẹ

Tháng đầu năm 2018 đã chứng kiến sự tăng mạnh trong thương mại quốc tế của Việt Nam. Tính riêng tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đã đạt trên 40 tỷ USD, tăng trưởng ấn tượng tới hơn 40% so với cùng kỳ năm trước. Sự tăng trưởng vượt bậc này là nhờ những sự khởi sắc trong cả tình hình trong nước và quốc tế. Dư địa tăng trưởng của năm 2017 đã tạo tiền đề cho sự phát triển mạnh mẽ của khu vực sản xuất trong năm 2018, tạo động lực thương mại cho khu vực xuất nhập khẩu. Bên cạnh đó, sự phát triển của các đối tác chiến lược và sự phát triển trong nhu cầu hàng hoá Việt Nam ngày càng gia tăng cũng tạo ra  lực kéo giúp thương mại quốc tế của Việt Nam trong tháng đầu năm trở nên mạnh mẽ. Qua tới tháng 2, do ảnh hưởng của kì nghỉ Tết dài ngày, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam ước tính sẽ có sự điều chỉnh giảm nhẹ, ước đạt khoảng 25,9 tỷ USD, trong đó xuất khẩu ước đạt 13,4 tỷ USD, nhập khẩu ước đạt 12,5 tỷ USD. Cụ thể:

Đối với xuất khẩu, tính riêng tháng 2, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 13,4 tỷ USD, giảm 33,7% so với tháng trước nhưng vẫn tăng 2,3% so với cùng kỳ năm trước. Sự sụt giảm này chủ yếu đến từ khu vực trong nước do ảnh hưởng của tâm lý nghỉ dài ngày trong dịp Tết nguyên đán.

Về giá cả các mặt hàng xuất khẩu,  phần lớn các mặt hàng xuất khẩu đều được giữ giá ở mức ổn định cao. Giá xuất khẩu của cá tra thịt trắng, tôm đều đang ở mức cao khoảng 305.000 kg/ cá tra và trên 450000 kg/ tôm. Giá gạo và các mặt hàng trái cây cũng được định giá ổn định cao do chất lượng ngày càng được cải thiện. Tuy nhiên, trong tháng 2, giá cao su liên tục điều chỉnh giảm và đã xuống mức thấp nhất trong vòng 8 tháng nay ( theo giá sở giao dịch hàng hoá Tokyo TOCOM).

Về thị trường, Việt Nam vẫn phụ thuộc vào các thị trường truyền thống như Mỹ, EU, Trung Quốc, Nhật Bản. Đặc biệt, việc bị EU cảnh cáo thẻ vàng cho các mặt hàng thuỷ sản của Việt Nam đã gây ra những cản trở nhất định đối với việc xuất khẩu mặt hàng này cho thị trường khó tính EU.

Tuy nhiên, bên cạnh những bất lợi trên, tháng 2 cũng đón nhận những tín hiệu đáng mừng cho xuất khẩu Việt Nam. Trước nhất, xuất khẩu Việt Nam sẽ đón nhận những tác động tích cực từ việc kí kết hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) ngày mùng 8/3 tới đây. Bên cạnh đó, những tác động tích cực này còn trở nên mạnh mẽ hơn với sự quan tâm của Anh và Mỹ hiện nay. Ngoài ra, biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam – Liên minh Kinh tế Á – Âu (VN-EAEU FTA) cũng được cắt giảm tới hươn 5.535 dòng thuế về mức 0% trong đó chủ yếu là các mặt hàng nguyên liệu đầu vào như nguyên phụ liệu dệt may, da giày, linh kiện điện tử ,nhựa nguyên liệu, phân bón…từ đó có thể tác động làm giảm chi phí sản xuất cho các sản phẩm xuất khẩu.

Đối với nhập khẩu, kim ngạch, khu vực nhập khẩu ước tính nhập khẩu 12,5 tỷ USD, giảm 37,6% so với cùng kỳ tháng trước trong đó nhập khẩu giảm chủ yếu là ở khu vực có vốn trong nước.

Về thị trường, thị trường nhập khẩu của Việt Nam vẫn tập trung từ Trung Quốc và Hàn Quốc và không có nhiều đột biến trong tháng này.

Tóm lại, trong tháng 2 Việt Nam tiếp tục thặng dư 900 triệu USD do những sụt giảm trong kim ngạch nhập khẩu nhưng mức thâm hụt này chỉ mang tính chất tạm thời và tính chung 2 thang đầu năm, Việt Nam sẽ thâm hụt 1,08 tỷ USD, trong đó khu vực FDI xuất siêu tới 4,76 tỷ USD.

f. Thu ngân sách có xu hướng tích cực

Tình hình thu ngân sách tính đến 15/2/2018 vẫn được duy trì theo xu hướng tích cực. Cụ thể, tính đến 15/02/2018, tổng thu ngân sách ước đạt khoảng 11,21% so với dự toán thu ngân sách cả năm, cao hơn mức thu ngân sách của cùng kỳ năm 2017(10,9%). Trong đó, các khoản thu như thu nội địa, thu từ dầu thô và thu từ cân đối xuất nhập khẩu cũng ước đạt tương ứng là 11,2%, 14,4% và 9,2% dự toán của cả năm. Trong thu nội đia, thu từ Doanh nghiệp Nhà nước và Doanh nghiệp FDI tương ứng đạt 8,9% và 13,3% so với dự toán cả năm.

Chi ngân sách đạt khoảng 9,5% dự toán cả năm, trong đó, chi đầu tư phát triển, Chi phát triển sự nghiệp kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước, Đảng, đoàn thể, Chi trả nợ và viện trợ tương ứng khoảng 3,6%, 11,8% và 14,1% dự toán năm.

 g. Lãi suất bắt đầu xu hướng giảm, tỷ giá có xu hướng tăng

- Lãi suất liên ngân hàng tăng nhẹ trước tết và nhanh chóng giảm trở lại ngay sau tết nguyên đán

Trong tháng 01/2018, các ngân hàng lớn trong khối NHTM nhà nước đồng loạt giảm lãi suất cho vay với mức 0,5% ở các lĩnh vực ưu tiên, đưa mặt bằng lãi suất cho vay của lĩnh vực này xuống mức tối đa 6%/năm đối với khoản vay ngắn hạn và 7,5%/năm nếu vay trung và dài hạn. NHNN cũng điều chỉnh giảm lãi suất cho vay trên thị trường mở (OMO) từ 5% còn 4,75% sau gần 1năm duy trì.

Sang tháng 02/2018, thị trường bước vào những ngày cao điểm thanh toán và chi trả, nhu cầu giao dịch trong hệ thống ngân hàng tăng cao đã thúc đẩy lãi suất tăng. Tuy nhiên, nhưng thường lệ, qua cao điểm thanh toán và chi trả dịp Tết, dòng tiền thường nhanh chóng quay trở lại hệ thống ngân hàng. Cụ thể, lãi suất chào VND bình quân qua đêm đã xuống 3,95%/năm, 1 tuần còn 4%, 2 tuần còn 4,02% và 1 tháng xuống 4,15%/năm.

- Tỷ giá tăng USD/VND tăng

Cũng là thời điểm nhu cầu giao dịch ngoại tệ gia tăng trước dịp tết nguyên đán, theo đó, tỷ giá USD/VND liên ngân hàng có xu hướng tăng lên trong một số phiên giáp tết. Tính trung bình, giá USD bán ra đã tăng từ 22.720 VND lên 22.735 VND.

Sau tết, trên biểu niêm yết của các ngân hàng thương mại, giá USD bán ra đã nhanh chóng bật lên mức 22.760 VND, một số ngân hàng yết giá bán ra tới 22.778 VND.

2. Dự báo tình hình kinh tế xã hội trong thời gian tới

Tăng trưởng kinh tế trong năm 2018 được dự báo sẽ tiếp tục chuyển biến tích cực, kế thừa xu thế tăng trưởng từ năm năm 2017 nhờ sự gia tăng hoạt động trong các lĩnh vực chế tạo, xây dựng, thương mại, bán buôn và bán lẻ, ngân hàng và du lịch. Kinh tế và thương mại của thế giới dự báo cao hơn năm 2017, tạo thuận lợi hơn cho phát triển kinh tế và xuất khẩu. Tăng trưởng sẽ tiếp tục cải thiện ở cả ba động lực kinh tế, mạnh mẽ nhất là khu vực dịch vụ do kế thừa đà tăng trưởng của năm 2017. Khu vực công nghiệp và xây dựng cũng sẽ được kỳ vọng có bước bứt phá khi những nỗ lực từ phía Chính phủ trong tháo gỡ khó khăn của doanh nghiệp, nhằm thúc đẩy tăng trưởng được thực hiện triệt để và quyết liệt trong năm 2017 cũng sẽ phát huy hiệu quả trong năm 2018. Khu vực nông lâm và thủy sản sẽ duy trì ở mức tăng trưởng khá khi các giải pháp tháo gỡ khó khăn và phát triển nông nghiệp bền vững đang dần được triển khai và phát huy hiệu quả.

Với việc tăng trưởng đồng đều trên các khu vực kinh tế lớn về phía cung cũng như thành tích 2 tháng đầu năm từ các lĩnh vực xuất khẩu, tiêu dùng, đầu tư phía cầu, dự kiến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2018 có khả năng khởi sắc hơn so với dự báo. Tốc độ tăng trưởng GDP có thể sẽ đạt mức 6.83% (điều chỉnh tăng so với mức dự báo 6.71 của NCIF thực hiện tháng 12/2017), cụ thể như sau:

Bảng. Dự báo tăng trưởng theo Quý của kịch bản điều chỉnh

                                                                                                                                Nguồn: NCIF, tháng 2/2018

Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn còn những thách thức phía trước, Trong nước, các vấn đề nội tại của nền kinh tế vẫn là thách thức lớn như trình độ công nghệ thấp, đất đai, tài nguyên đang dần cạn kiệt trong khi năng suất, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế tuy có chuyển biến nhưng chưa thực sự đột phá. Ngoài ra, yếu tố động lực tăng trưởng ở cả tổng cung và tổng cầu như khai thác dầu, than, đóng góp của Samsung, kiều hối, FDI, tiêu dùng đều đã được tận dụng và khó có khả năng duy trì được mức tăng cao như trong năm 2017. Thêm vào đó thị trường lao động Việt Nam năm 2018 sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang và sẽ tác động đến mọi mặt của nền kinh tế và xã hội, đặc biệt là thị trường lao động. Cuộc cách mạng này vừa là cơ hội, đồng thời cũng là thách thức đối với thị trường lao động Việt Nam, đặc biệt là trong các lĩnh vực dệt may, điện tử, những ngành có nhiều lao động thủ công hoặc gắn với quá trình tự động hóa.

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Phân tích và dự báo
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202