Nghiên cứu > Thông tin khoa học

Sử dụng mô hình Văn Miếu phân tích và dự báo nền kinh tế Việt Nam trong trung hạn

Cập nhật lúc: 28/12/2017 10:44:00 AM

1. Lời nói đầu

Sử dụng mô hình trung hạn trong xây dựng và đánh giá nền kinh tế nói chung cũng như xây dựng và đánh giá khả năng hoàn thành chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm và hàng năm giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong việc xây dựng một bức tranh tổng thể về nền kinh tế trong hiện tại và phác thảo những khả năng có thể của nền kinh tế trong tương lai; dự báo và tính toán các thay đổi những chủ thể của nền kinh tế khi chịu tác động từ các yếu tố trong và ngoài nền kinh tế. Mô hình hóa nền kinh tế nhằm xem xét đến các yếu tố quyết định đến các hành vi kinh tế trong dài hạn của nền kinh tế. Theo đó, việc mô hình hóa nền kinh tế có thể xác định các nhân tố chính đã đóng góp vào mức tăng trưởng của nền kinh tế và theo đó bàn luận một số lựa chọn chính sách có thể thúc đẩy và hiệu quả hoá nhằm phát triển nền kinh tế trong dài hạn.

Kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Việc xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế -xã hội 5 năm, hàng năm cũng như việc đánh giá việc thực hiện nhằm điều chỉnh các chiến lược, kế hoạch kinh tế xã hội này một trong những công việc vô cùng quan trọng cả trong phạm vi mỗi ngành, mỗi địa phương cũng như đối với phạm vi toàn bộ nền kinh tế. Để có cái nhìn tổng quan nhằm phân tích thực trạng, xây dựng các kịch bản mô phỏng với các giả định có thể phục vụ cho việc xây dựng và đánh giá chiến lược, kế hoạch kinh tế - xã hội, việc mô phỏng nền kinh tế bằng một mô hình phù hợp là một trong những công việc quan trọng hàng đầu.

Trên thế giới, việc sử dụng mô hình thực hiện định lượng nền kinh tế được phát triển từ những năm 1930 (John Bardley, 2004), với những tính toán đơn giản từ phía cầu. Cùng với sự thay đổi về cấu trúc và biến động của nền kinh tế, các mô hình có độ phổ quát cao hơn, ngày càng phù hợp và giải quyết đươc những quan hệ phức tạp hơn của nền kinh tế. Các dạng mô hình phân tích dự báo sử dụng cũng có nhiều loại, thông dụng có thể kể đến như mô hình kinh tế lượng vĩ mô có cấu trúc, mô hình vào ra (mô hình IO), mô hình cân bằng tổng thể (GE), mô hình kinh tế lượng toàn cầu, …. Việc lựa chọn mô hình nào để sử dụng tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố như mục đích sử dụng mô hình, cấu trúc nền kinh tế, điều kiện đáp ứng của số liệu thống kê, nguồn lực đầu tư, … Trong điều kiện về số liệu thống kê cũng như đặc thù của nền kinh tế Việt Nam chuyển đổi hiện nay, mô hình kinh tế lượng có cấu trúc được sử dụng phổ biến nhất. Lý do là mô hình này thuộc loại mô hình thực chứng, được xây dựng dựa trên cơ sở  các chuỗi dữ liệu lịch sử. Tuy mô hình này cũng dựa trên lý thuyết kinh tế, song nó không quá phụ  thuộc vào nhiều giả định của các trường phái kinh tế như nhiều loại mô hình khác.

Các mô hình kinh tế lượng có cấu trúc đã nhiều đơn vị nghiên cứu xây dựng, trong giai đoạn khoảng những năm 2000, như mô hình dự báo trung hạn do Viện Nghiên cứu và Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Viện Nghiên cứu Kinh tế của Cộng hoà Liên bang Đức (DIW), Mô hình dự báo ngắn hạn do Viện Chiến lược và Phát triển (DSI), Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với chuyên gia Nhật Bản hay Mô hình trung hạn do Tổng cục Thống kê phối hợp với chuyên gia Pháp, Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - xã hội Quốc gia phối hợp với chuyên gia Hàn Quốc và nhiều mô hình thuộc các đơn vị nghiên cứu khác.  Như vậy, có thể thấy Việt Nam cũng đã ứng dụng và xây dựng khá nhiều mô hình kinh tế lượng có cấu trúc trong quá khứ nhằm đáp ứng nhu cầu phân tích và dự báo trung hạn. Tuy vậy, trong thời gian gần đây, đặc biệt là từ năm 2011, khi TCTK đổi năm gốc số liệu thành 2010 thay vì năm 1994 như thời gian trước đó, đồng thời số liệu chuyển đổi theo gốc mới mới đối với nhiều chỉ tiêu chỉ có từ năm 2005, cũng như nhiều yếu tố khác quan và chủ quan khác, các mô hình trên đều không được vận hành đều đặn.

Với chức năng nhiệm vụ được giao và nhiệm vụ phân tích và dự báo phục vụ xây dựng kế hoạch trung hạn 2016-2020, Trung tâm Thông tin và Dự báo KT-XH Quốc gia, với sự giúp đỡ kỹ thuật của các chuyên gia Ailen, đã xây dựng mô hình trung và dài hạn, lấy tên là Văn Miếu, với phiên bản đầu tiên được ra mắt năm 2013 và được duy trì đến nay với phiên bản mới nhất Vanmieu v2.4. Chi tiết về sự ra đời, cấu trúc cũng như các đánh giá về mô hình sẽ có trong phần tiếp theo.

2. Cấu trúc mô hình Vanmieu

Mô hình Vanmieu, được xây dựng từ năm 2012 phiên bản 1.0 dưới sự trợ giúp kỹ thuật của GS. John FitzGerald (Viện Nghiên cứu kinh tế và xã hội Ailen (ESRI)), trong khuôn khổ hợp tác và nghiên cứu hỗ hợp giữa Trung tâm thông tin và dự báo Kinh tế xã hội quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Việt Nam và Viện Nghiên cứu kinh tế và xã hội, Cộng hòa Ailen. Đây là mô hình dựa trên phiên bản mô hình HERMIN do 2 giáo sư người Ailen GS. John Bradley và GS.John FitzGerald xây dựng từ năm 1988, đã ứng dụng ở hầu hết các quốc gia EU và nhiều quốc gia khác.Qua thời gian phát triển, từ năm 2013 đến nay, mô hình Vanmieu đã liên tục được cập nhật phục vụ các yêu cầu khác nhau của công tác phân tích và dự báo qua từng năm. Mô hình trước hết mô phỏng được thực trạng của nền kinh tế, thể hiện được các mối quan hệ kinh tế giữa các thành phần kinh tế tại các quốc gia cũng như cơ chế truyền dẫn tác động thay đổi trong nền kinh tế đối với mỗi thành phần kinh tế cụ thể cũng như của toàn nền kinh tế nói chung. Vì mô hình này được xây dựng trên cơ sở các nước nhỏ đang phát triển, vì thế mô hình có khả năng thích ứng với điều kiện các nền kinh tế đi lên từ mức độ phát triển thấp và thiếu hụt về số liệu. Đây cũng là một trong lý do hàng đầu khi quyết định lựa chọn dạng mô hình này cho mô hình Vanmieu được xây dựng cho nền kinh tế Việt Nam. Dưới đây sẽ là cấu trúc cụ thể của mô hình này.

Mô hình Vanmieu3.0 (năm 2016), gồm 05 khối: Khối cung, khối cầu, khối thu nhập, khối giá cả và khối năng lượng.

+ Khối cung, được chia theo 5 khu vực lớn: Khu vực NLTS, Khu vực CN-XD, Khu vực DV (bao gồm khu vực dịch vụ phi thị trường). Trong đó, việc chia nền kinh tế thành 3 khu vực NLTS, CN-XD và DV theo đặc thù số liệu thống kê của Việt Nam, cũng như phục vụ tính toán chuyến dịch cơ cấu kinh tế giữa các khu vực kinh tế lớn nhằm đánh giá mục tiêu công nghiệp hoá của nền kinh tế. Việc tách khu vực dịch vụ làm 2 khu vực nhằm tách các ngành hoặc lĩnh vực do nhà nước quản lý hoặc hoạt động vì mục tiêu phi lợi nhuận nhằm mục đích đánh giá ảnh hưởng cũng như vai trò của khu vực chỉnh phủ hoặc do chính phủ kiểm soát có tác động như thế nào đối với các chủ thể khác trong nền kinh tế, đồng thời là cơ sở để đánh giá tác động của khu vực công trong các nghiên cứu sau này.

+ Khối cầu: Khối cầu trong mô hình xây dựng cho Việt Nam chủ yếu tập trung vào tiêu dùng, xuất nhập khẩu và thương mại.

+ Khối thu nhập:  Khối chi tiêu trong mô hình được xây dựng tập trung vào các vấn đề như lương và vai trò của chính phủ trong nền kinh tế. Trong đó các phương trình về lương, cung tiền.

+ Khối giá cả: Khối giá cả chủ yếu được dùng để phân tích ảnh hưởng của giảm phát giá đầu ra của các khu vực kinh tế với giá tiêu dùng của nền kinh tế và các giá khác như giá xuất nhập khẩu, giá dầu, …

+ Khối năng lượng: Khối này bao gồm các phương trình tiêu thụ cuối cùng năng lượng, việc sản xuất năng lượng từ 5 nguồn chính là than, dầu, khí ga, sinh khối, thủy điện và năng lượng tái tạo. Mức tiêu thụ sẽ phụ thuộc vào giá cả nguồn nguyên liệu sử dụng để sản xuất và nhu cầu sử dụng để sản xuất đầu ra đã được ước lượng từ mô hình chính.

Sau khi tiến bằng cân bằng mô hình theo các khối, các phương trình hành vi và định nghĩa được xây dựng nhằm cân đối các chỉ tiêu trong mô hình, cũng như đưa vào những đặc thù của nền kinh tế Việt Nam. Đây là bước tiến hành liên tục qua các phiên bản mô hình, tuỳ thuộc và mục đích nghiên cứu và khả năng đáp ứng số liệu.

Ưu điểm chính của mô hình Vanmieu là có thể xây dựng dựa trên lý thuyết kinh tế từ đơn giản, trên cơ sở số liệu có sẵn, trong điều kiện khan hiếm về số liệu thống kê. Các giả thuyết áp dụng cho mô hình khá phù hợp với điều kiện của nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, do mô hình có thể đơn giản hoá và sử dụng số liệu thống kê có sẵn nên việc đi sâu phân tích được lĩnh vực và khía cạnh của nền kinh tế còn hạn chế. Số lượng biến ngoại sinh khá nhiều, trong khi chuỗi số liệu còn ngắn. Để mô hình hoàn chỉnh cần duy trì được nguồn lựa cập nhật và hiệu chỉnh thường xuyên.

3. Một số kết quả ứng dụng mô hình Vanmieu trong dự báo và phân tích chính sách

3.1 Dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam đến 2020

Một trong những kết quả quan trọng nhất của mô hinh Vanmieu là đưa ra dự báo trung hạn theo các kịch bản khác nhau. Dựa trên các giả định về các nhân tố tác động và các biến ngoại sinh trong mô hình, các kịch bản sẽ đưa ra các tính toán các cân đối lớn của nền kinh tế trong thời gian dự báo. Kịch bản cơ sở, thường là kịch bản trung bình, sẽ là kịch bản có nhiều khả năng xảy ra nhất, ngoài ra tùy thực tế có thể xây dựng kịch bản thấp hoặc kịch bản cao, kèm theo các điều kiện để nền kinh tế có thể thực hiện các kịch bản này.

Bảng 1. Kịch bản cơ sở một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô Việt Nam giai đoạn 2014-2020

3.2 Phân tích tác động của một số chính sách ở Việt Nam

Mô hình Vanmieu_2.1 (2015), được nhóm nghiên cứu phát triển nhằm đánh giá tác động một số chính sách ban hành của Việt Nam trong thời gian đó, cụ thể thể hoá bằng số các tác động các chính sách nhằm đưa ra kiến nghị cho hoạch định các chính sách tương tự trong tương lai, kết quả cụ thể đánh giá một số chính sách như sau:

- Chính sách giảm lãi suất năm 2012 góp phần tạo ra động lực mới cho tăng trưởng kinh tế khi tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng trở lại ngày một mạnh hơn (5.42% năm 2013; 5.98% năm 2014 và 6.68% năm 2015). Cũng cần thấy trong thời điểm này nguy cơ lạm phát còn thường trực nên mức độ nới lỏng lãi suất thực tế cũng ở mức vừa phải. Tuy nhiên, tính toán cho thấy, nếu nới lỏng lãi suất ở mức cao hơn, các chỉ tiêu vĩ mô chỉnh có khả năng tốt hơn.

- Chính sách tỷ giá theo chính sách năm 2015, phản ứng việc Trung Quốc quyết định phá giá đồng NDT là đúng hướng tránh ảnh hưởng tiêu cực đối với sản xuất trong nước và tránh việc kinh tế có thể rơi vào tình trạng giảm phát sâu hơn. Tuy nhiên, dự báo trong giai đoạn sau đó thì lợi thế của việc này khó được duy trì trong trung hạn. Với giả thiết Việt Nam tiếp tục thực hiện chính sách này thì tăng trưởng giai đoạn 2016-2020 có thể mất 0.3%-0.5% mỗi nằm và nguy cơ mất ổn định vĩ mô do tác động khó lường của lạm phát.

- Tác động của tăng đầu tư từ ngân sách được đánh giá làcó ảnh hưởng tích cực đến nền kinh tế, tuy nhiên nền kinh tế phải chịu mức lạm phát cao hơn và phát thải CO2 nhiều hơn. Cụ thể, khi đầu tư từ ngân sách nhà nước tăng 1% sẽ làm tăng GDP trung bình khoảng 0,33%, 0,26%, 0,41% và 0,35% lần lượt cho toàn bộ nền kinh tế, khu vực công nghiệp, khu vực xây dựng và khu vực dịch vụ. Tiêu dùng tư nhân tăng khoảng 0,2%, đầu tư khu vực công nghiệp và dịch vụ tăng tương ứng 0,46 và 0,35%.  Lao động trong nền kinh tế dịch chuyển theo hướng tích, lao động sẽ giảm trong khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản và lao động trong khu vực công nghiệp và dịch vụ tăng. Tuy nhiên, lạm phát của nền kinh tế tăng cao thể hiện thông qua chỉ số giá tiêu dùng tăng khoảng 0,33 điểm % và phát thải CO2 trong nền kinh tế tăng cao hơn khoảng 0,79%.

Đầu tư từ ngân sách nhà nước tăng cũng sẽ làm cho các chỉ tiêu về tiêu dùng năng lượng, tiêu dùng dầu và tiêu dùng điện trong nền kinh tế cũng tăng. Có thể thấy, trong kịch bản này, tính trung bình giai đoạn 2018-2020 tiêu dùng năng lượng của nền kinh tế tăng 0,3% điều này sẽ gây ảnh hưởng đến môi trường trong dài hạn.

- Tác động của tăng thuế gián thu đối với nền kinh tế sẽ làm giảm tăng trưởng và tăng giá trong nước. Nguyên nhân được giải thích là do khi tăng mức thuế này sẽ làm cho giá cả trong nước tăng cao hơn và sẽ làm giảm tổng cầu trong nước dẫn đến GDP giảm. Cụ thể, nếu tăng tỷ lệ thuế gián thu trên tổng tiêu dùng tư nhân lên 2 điểm %, GDP giảm trung bình trong giai đoạn 2018-2020 khoảng (-)0,45% và giá tiêu dùng tăng 0,59 điểm %.

Hiện tại, mô hình Vanmieu vẫn đang tiếp tục được cập nhật và hoàn thiện.Các phiên bản mới của mô hình được cập nhật số liệu hàng năm khắc phục dần hạn chế về độ dài chuỗi số liệu, các phương trình được hoàn thiện hơn phù hợp hơn với thực tế nền kinh tế Việt Nam. Ngoài việc tiếp tục hoàn thiện mô hình phục vụ xây dựng kế hoạch, chiến lược phát triển kinh tế xã hội, đánh giá chính sách, nhóm nghiên cứu tiếp tục có kế hoạch mở rộng các khối mô hình nhằm đánh giá năng suất hiệu quả nền kinh tế (2017) và các khối khác nhằm mở rộng mô hình phục vụ các mục tiêu phát triển của nền kinh tế. Mô hình cũng có thể được cải biên dạng mô hình lõi nhằm phổ biến rộng rãi, cho mục đích giảng dạy hoặc áp dụng cho các tỉnh, thành phố hoặc vùng lãnh thổ với quy mô nhỏ hơn.

Quá trình phát triển và các kết quả của việc sử dụng mô hình Vanmieu được tóm tắt trong bảng sau:

Bảng 2. Các phiên bản phát triển của mô hình Văn Miếu theo các mục tiêu khác nhau từ 2013 đến 2016

 

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Phân tích và Dự báo
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Số lượt truy cập : 1097202