Nghiên cứu > Thông tin khoa học

Kinh nghiệm quốc tế trong việc sử dụng mô hình Q của Tobin để đánh giá tác động việc thực hiện cổ phần hóa tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp và bài học rút ra cho Việt Nam

Cập nhật lúc: 28/12/2017 02:43:00 PM

Trên thế giới có nhiều nghiên cứu đánh giá hiệu quả của việc tư nhân hóa DNNN nhằm thiết lập tối ưu hoá phần vốn sở hữu trong doanh nghiệp với mục tiêu việc làm, doanh thu hay lợi nhuận. Các phương pháp được sử dụng để đánh giá như mô hình giả thuyết đơn giản hay các mô hình kinh tế lượng hay sử dụng Tobin’q phân tích về hiệu quả đầu tư.

Về phương pháp mô hình giả thuyết đơn giản có thể kể đến như nghiên cứu của Linquing Huan, Sheng Xiao (2012) về “Sở hữu chính phủ ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp như thế nào? Mô hình đơn giản của tư nhân hoá trong các nền kinh tế chuyển đổi” tìm hiểu về nguyên nhân và những ảnh hưởng của tư nhân hoá đến các nền kinh tế chuyển đổi bằng cách sử dụng mô hình giả thuyết đơn giản để đánh giá ảnh hưởng này. Kết quả cho thấy mô hình có độ nhạy đối với các giá trị tham số. Các giả thuyết của mô hình được đề cập như sau:

- Giả thuyết: Năng suất lao động của DN (được đo bằng doanh số trung bình trên 1 lao động) bị ảnh hưởng tiêu cực bởi sở hữu chính phủ trong DN.

- Giả thuyết: Năng suất lao động của doanh nghiệp (được đo bằng lợi nhuận trung bình trên 1 lao động) bị ảnh hưởng tiêu cực bởi sở hữu của chính phủ trong DN.

- Giả thuyết: Tư nhân hoá làm giảm sở hữu của chính phủ trong DN và tăng lợi nhuận và năng suất lao động.

- Giả thuyết: Với bất kỳ sở hữu nào của chính phủ, việc làm được tăng lên bao nhiêu thì lợi nhuận và năng suất lao động giảm bấy nhiêu. Hay nói cách khác, với mỗi lao động dư thừa được giữ lại thì chắc chắn lợi nhuận và năng suất lao động của DN sẽ thấp hơn. Giả thuyết này có thể dễ dàng nhìn được, do quản lý DN (nhà nước) quan tâm đến việc làm hơn lợi nhuận. Mục tiêu tối ưu hoá việc làm được ưu tiên hơn mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, kết quả là dẫn đến sự dư thừa lao động, dẫn đến năng suất lao động và lợi nhuận thấp hơn.

Về mô hình kinh tế lượng có thể kể đến nghiên cứu của Roman Frydman và cộng sự (1999) về “Khi nào thì tư nhân hoá hiệu quả? Tác động của sở hữu tư nhân đến hiệu suất của doanh nghiệp trong các nền kinh tế chuyển đổi”. Nghiên cứu này sử dụng mô hình tác động cố định (FE model) để so sánh hiệu suất của doanh nghiệp tư nhân hoá và doanh nghiệp nhà nước trong các nền kinh tế chuyển đổi ở trung tâm châu Âu. Bài nghiên cứu lập luận rằng tư nhân hoá có những ảnh hưởng khác nhau phụ thuộc vào loại hình sở hữu. Đặc biệt là tư nhân hoá bên ngoài nhưng không tư nhân hoá nội bộ, sở hữu có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu suất của doanh nghiệp. Đối với những công ty tư nhân hoá hiệu quả, tác động lên doanh thu rất rõ ràng, nhưng không có sự so sánh với tác động đến sự giảm chi phí. Bỏ qua tác động doanh thu mạnh mẽ của việc tư nhân hoá với sở hữu bên ngoài dẫn đến việc đổ lỗi cho tái cấu trúc hậu tư nhân hoá gây mất việc làm tiềm năng. Nghiên cứu đánh giá tác động của tư nhân hoá lên hiệu suất của doanh nghiệp bằng cách sử dụng mô hình tác động cố định (FE model), trong đó sử dụng 2 nhóm doanh nghiệp tư nhân hoá và doanh nghiệp nhà nước, có kiểm soát sự khác nhau giữa hai nhóm doanh nghiệp này trước khi tư nhân hoá. Các chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá tác động của tư nhân hoá: tốc độ tăng trưởng hàng năm của doanh thu, việc làm…

Về sử dụng Tobin’q trong việc đánh giá hiệu quả cổ phần hóa: Đa phần các nghiên cứu quốc tế đều sử dụng Tobin’q trong việc đánh giá hiệu quả và quyết định đầu tư của doanh nghiệp. Sử dụng Tobin’q trong việc đánh giá hiệu quả đầu tư của chính sách cổ phần hóa chỉ có một nghiên cứu của Conor và cộng sự (2015). Nghiên cứu này kiểm tra sự khác biệt về hiệu quả đầu tư giữa các doanh nghiệp nhà nước và công ty tư nhân và thứ hai đánh giá ảnh hưởng của chính sách tư nhân hóa và cổ phần hóa về hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp nhà nước trước đây.

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong nghiên cứu là mô hình cấu trúc kiểm tra mối quan hệ giữa Tobin’q và vốn chi tiêu. Trong khi sự khác biệt rõ rệt trong hiệu quả đầu tư được tìm thấy giữa các nhóm không đồng nhất của các công ty tư nhân (quy mô, ngành, hạn chế và vị trí tài chính), bằng chứng về chi tiêu đầu tư liên quan đến lợi nhuận biên của doanh nghiệp nhà nước ở tất cả các ngành và quy mô. Tuy nhiên, doanh nghiệp nhà nước trước đây đã được tư nhân hóa và cổ phần hóa với số cổ phần sở hữu nhà nước hạn chế cho thấy liên kết tích cực giữa Q và đầu tư. Trong thực tế, mối liên kết của các doanh nghiệp này mạnh mẽ hơn doanh nghiệp tư nhân. Sự khác biệt cũng được thể hiện rõ qua quy mô và ngành nhấn mạnh rằng sự lựa chọn phương pháp thoái vốn của chính phủ có tác động khác biệt về hiệu quả giữa các nhóm doanh nghiệp và nhóm ngành.

Các giả thiết được sử dụng trong nghiên cứu này:

Giả thiết 1. Doanh nghiệp tư nhân thể hiện một mối quan hệ tích cực và đáng kể giữa yếu tố cơ bản (trong mô hình) và đầu tư. Ngược lại, hệ số đối với doanh nghiệp nhà nước  thấp hơn hoặc thể hiện mối quan hệ không đáng kể giữa các yếu tố được phân tích và đầu tư. Ngoài ra, sự khác biệt giữa các loại hình doanh nghiệp nhà nước cũng được xem xét.

Giả thiết 2. Doanh nghiệp nhà nước trung ương được kiểm soát nên có hiệu quả hơn so với doanh nghiệp nhà nước địa phương.

Giả thiết 3. Hiệu quả đầu tư được cải thiện sau khi nhà nước thoái vốn phụ thuộc vào mức độ của tư nhân hóa. Bên cạnh đó, các giả thuyết được kiểm nghiệm với dữ liệu chi tiết trong mẫu như phân biệt giữa các ngành chiến lược (khai thác mỏ, thép, vận tải, thông tin liên lạc và các tiện ích) so với các ngành khác. Các lĩnh vực chiến lược dưới sự kiểm soát nghiêm ngặt quy định và trong nhiều trường hợp được sử dụng để cung cấp hàng hóa công cộng từ một vị trí độc quyền tự nhiên hoặc bán tự nhiên, hiệu quả đầu tư của họ là khả năng thấp hơn so với các ngành khác. Những tác động của tư nhân hóa cũng có thể khác nhau giữa các ngành khác nhau, những bất đồng về mục tiêu giữa nhà quản lý và chủ sở hữu có thể dẫn đến các kết quả quản lý không hiệu quả.

Giả thiết 4. Hiệu quả đầu tư khác nhau giữa quyền sở hữu đối với ngành chiến lược và không chiến lược. Các công ty lớn có thể ít bị ảnh hưởng bởi sự bất đối xứng thông tin trong việc tiếp cận vốn bên ngoài. Ở khía cạnh này, sự khác biệt về hiệu quả đầu tư trên quy mô công ty và hình thức sở hữu có thể xảy ra.

Giả thiết 5. Có sự khác biệt trong hiệu quả đầu tư đối với quyền sở hữu giữa các doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ.

Giả thiết 6. Mức độ hạn chế ngân sách mềm tác động đến hiệu quả đầu tư. Doanh nghiệp bị hạn chế tín dụng có độ nhạy của đầu tư đối với các yếu tố cơ bản lớn hơn.

Qua kinh nghiệm được áp dụng trong các nghiên cứu quốc tế, các giả thiết và mô hình trên có thể học hỏi để sử dụng trong việc đánh giá tác động của chính sách cổ phần hóa (sở hữu vốn của nhà nước) đến hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp dựa trên dữ liệu bảng về doanh nghiệp Việt Nam.

-------------------

Tài liệu tham khảo

  1. Conor M. O’Tool, Edagar L.W. Morgenroth, Thuy T. Ha (2015), Hiệu quả đầu tư, doanh nghiệp nhà nước và tư nhân hóa: Bằng chứng từ Việt Nam trong nền kinh tế chuyển đổi (Investment efficiency, state-owned enterprises and privatisation: Evidence from Viet Nam in Transition), Journal of Corporate Finance (2016), pp. 16.
  2. Linqiang Huang, Sheng Xiao (2012), Sở hữu chính phủ ảnh hưởng đến hoạt động của DN như thế nào? Mô hình đơn giản của tư nhân hoá trong các nền kinh tế chuyển đổi (How does government ownership affect firm performance? A simple model of privatization in transition economies), Economics Letters 116 (2012), pp. 480 – 482.
  3. Roman Frydman, Cheryl Gray, Marek Hessel, Andrzej Rapaczynski (1999), Khi nào thì tư nhân hoá hiệu quả? Tác động của sở hữu tư nhân đến hiệu suất của doanh nghiệp trong các nền kinh tế chuyển đổi (When does privatization work? The impact of private ownership on corporate performance in the transition economies), The Quarterly Journal of Economics, Vol. 114, No. 4. (Nov., 1999), pp. 1153-1191
Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Nguyễn Thị Hoàng Yến (Ban Thông tin DN và TT)
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Số lượt truy cập : 1097202