Tin Kinh tế- xã hội  > Doanh nghiệp

Vai trò của xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp trong thực hiện chính sách hỗ trợ DNNVV Việt Nam trong thời gian tới

Cập nhật lúc: 13/11/2017 02:47:00 PM

Đặt trong bối cảnh thực thi Luật Hỗ trợ DNNVV từ ngày 1/1/2018 với hàng loạt các biện pháp hỗ trợ tổng thể, nhiều mặt đối với khu vực DNNVV, vấn đề đặt ra là giải pháp nào nhằm nâng cao hiệu quả hỗ trợ đúng và trúng đối tượng, khắc phục những bất cập, tồn tại trong thực thi chính sách hỗ trợ DNNVV trước đây. Xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp (XHTN DN) cũng đã được nêu ra trong Luật Hỗ trợ DNNVV như một công cụ tham chiếu đánh giá năng lực DNNVV trong lựa chọn, tiếp nhận hỗ trợ của nhà nước.

XHTN giúp DNNVV tiếp cận vốn vay của các tổ chức tín dụng, đặc biệt thông qua các quỹ hỗ trợ doanh nghiệp

Một trong những chính sách hỗ trợ DNNVV tiếp cận vốn vay từ các tổ chức tín dụng mà Chính phủ ban hành trong những năm qua là tạo cơ chế và thúc đẩy hoạt động của các quỹ hỗ trợ DNNVV, như các quỹ BLTD cho DNNVV và Quỹ Phát triển DNNVV, Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia…

Đối với hệ thống quỹ BLTD cho DNNVV, Việt Nam có khoảng 27 quỹ BLTD với tổng vốn điều lệ ước khoảng 1.462 tỷ đồng. Lũy kế doanh số bảo lãnh của các Quỹ BLTD từ năm 2002 đến 30/6/2016 ước khoảng trên 4.161 tỷ đồng với hàng nghìn DNNVV được các quỹ bảo lãnh vay vốn các tổ chức tín dụng. Tổng số tiền các quỹ BLTD phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho DNNVV ước khoảng 137,95 tỷ đồng.[1] Quỹ BLTD tại các tỉnh, thành phố đã tạo điều kiện cho DNNVV tiếp cận nguồn vốn vay, hỗ trợ DN có vốn để duy trì, mở rộng, phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo công ăn việc làm, góp phần phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.

Bên cạnh quỹ BLTD, Quỹ Phát triển DNNVV được thành lập với mục tiêu hỗ trợ các DN có phương án kinh doanh khả thi tiếp cận vốn vay của các TCTD, bắt đầu đi vào hoạt động từ tháng 4/2016. Sau hơn một năm hoạt động, có trên 1.000 lượt DNNVV tiếp cận trực tiếp với quỹ qua các hội thảo, các kênh truyền thông và trung tâm tiếp nhận thông tin để tìm hiểu các chương trình hỗ trợ của quỹ (chưa tính số lượng DN tiếp cận thông tin qua các NHTM nhận ủy thác). Năm 2017, Quỹ Phát triển DNNVV triển khai chương trình hỗ trợ tài chính đối với DNNVV với tổng hạn mức hỗ trợ là 560 tỷ đồng, ở các lĩnh vực: đổi mới sáng tạo; nông, lâm, thủy sản; chế biến, chế tạo; và lĩnh vực cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải. Quỹ cũng sẽ tiếp tục phối hợp với các địa phương, hiệp hội DN, ngân hàng nhận ủy thác, các tổ chức tài chính có liên quan để triển khai tổ chức các hội thảo, chương trình tư vấn cho DNNVV. Để đảm bảo tính khách quan, minh bạch, rút ngắn thời gian đánh giá hồ sơ dự án của DNNVV, quỹ đang phối hợp với ngân hàng nhận ủy thác ứng dụng công nghệ thông tin để triển khai chương trình tiếp nhận, xử lý hồ sơ vay vốn của DNNVV trực tuyến, thông tin về các DNNVV đủ điều kiện được quỹ chuyển cho ngân hàng nhận ủy thác thẩm định phương án vay vốn. Tương tự, Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia cũng được thành lập năm 2013 với chức năng cho vay ưu đãi, hỗ trợ lãi suất vay, bảo lãnh để vay vốn, hỗ trợ vốn cho các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp thực hiện nghiên cứu, chuyển giao, đổi mới và hoàn thiện công nghệ.

Tuy nhiên, hoạt động của các quỹ này hiện nay vẫn còn nhiều bất cập và chưa thực sự hỗ trợ được nhiều DNNVV tiếp cận vốn vay của các TCTD. Đối với Quỹ Phát triển DNNVV và Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia, do mới đi vào hoạt động nên kết quả chưa được thể hiện rõ nét. Đối với các quỹ BLTD thì có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự hoạt động thiếu hiệu quả của các quỹ này. Một trong những nguyên nhân quan trọng là do cán bộ của quỹ còn thiếu kinh nghiệm trong việc thẩm định hồ sơ, cấp bảo lãnh…

Trong bối cảnh đó, XHTN DN với việc đánh giá khả năng thực hiện đầy đủ, đúng hạn nghĩa vụ nợ của DN là công cụ hữu ích có thể hỗ trợ các cán bộ các quỹ BLTD tăng cường hiệu quả thực hiện các nghiệp vụ của quỹ. XHTN thường được dựa trên những phân tích khá đầy đủ và tin cậy về tình hình hoạt động của DN, bao gồm các yếu tố về môi trường tác động đến DN, sản phẩm và thị trường, quản trị DN và tình hình tài chính của DN. Do đó, thay vì phải thực hiện quá trình thẩm định từ đầu thì XHTN có thể giúp các cán bộ của quỹ rút bớt thời gian và công sức với việc tình trạng hiện tại của DN đã được xác định. Các cán bộ của Quỹ chỉ cần tập trung vào việc xem xét, đánh giá tính khả thi của phương án sản xuất, kinh doanh của DN.

Như vậy, những doanh nghiệp không có tài sản thế chấp nhưng có điểm XHTN ở một mức nhất định vẫn có thể tiếp cận vốn vay của các tổ chức tín dụng dễ dàng hơn. XHTN còn là công cụ giúp tăng cường hiệu quả hoạt động của các quỹ hỗ trợ DNNVV. Đánh giá đúng vai trò của XHTN trong thực hiện chính sách hỗ trợ tiếp cận tín dụng, Luật Hỗ trợ DNNVV cũng đã quy định rõ “khuyến khích tổ chức tín dụng cho vay đối với DNNVV dựa trên XHTN DN và biện pháp phù hợp khác”, “việc bảo lãnh tín dụng cho DNNVV dựa trên tài sản đảm bảo hoặc phương án sản xuất, kinh doanh khả thi hoặc XHTN của DNNVV

Hình. XHTN trong quy trình bảo lãnh tín dụng cho DNNVV

Hình trên cho thấy cái nhìn tổng quát về đóng góp của kết quả xếp hạng tín nhiệm trong việc trợ giúp các DNNVV trong quá trình vay vốn từ ngân hàng. Các quỹ bảo lãnh sẽ đứng ra thẩm định và bảo lãnh cho các DNNVV, sử dụng các kết quả XHTN như một tài liệu tham khảo trong quá trình thẩm định của mình.

XHTN DN giúp cơ quan, tổ chức hỗ trợ DNNVV có căn cứ để lựa chọn, quyết định ưu tiên hỗ trợ

Số lượng DN cả nước hiện là trên 612.000 DN, trong đó tỷ trọng DNNVV chiếm đến 97 – 98%, số lượng DNNVV thuộc đối tượng nhận hỗ trợ trong Luật Hỗ trợ DNNVV là rất lớn, lên đến xấp xỉ 600.000 DN. Trong khi ngân sách nhà nước eo hẹp, không thể có nguồn lực để thực hiện các chính sách ưu đãi dành cho mọi DNVVN. Nguyên tắc hỗ trợ có trọng tâm, thời hạn, phù hợp với mục tiêu hỗ trợ và khả năng cân đối nguồn lực đã được đặt ra trong Luật. Việc xác định thời hạn, trọng tâm và mục tiêu để thu hẹp đối tượng, gắn với trọng tâm hỗ trợ của nhà nước trong từng thời kỳ và trên cơ sở nguồn lực hỗ trợ trong giai đoạn đó.

Trong nguồn lực hữu hạn của Nhà nước, cần chọn lọc những DNVVN kinh doanh chân chính, bài bản, có uy tín, có tiềm năng phát triển để ưu tiên hỗ trợ nhằm khuyến khích, thúc đẩy phát triển mạnh trong giai đoạn tiếp theo. Qua đó, hiệu quả chính sách hỗ trợ cũng phát huy cao hơn đối với cộng đồng DN nói riêng và cả nền kinh tế nói chung. XHTN DN là công cụ hữu hiệu giúp minh bạch hóa, đánh giá đúng thực trạng của DNVVN cần xem xét. Với công cụ XHTN DN sẽ giúp nhà nước, tổ chức hỗ trợ có thêm căn cứ định lượng cụ thể để cân nhắc quyết định chọn DN phù hợp tiêu chí ưu tiên hỗ trợ.

XHTN DN góp phần đảm bảo cạnh tranh minh bạch, bình đẳng trong tiếp cận chính sách hỗ trợ DNNVV

Với bộ chỉ tiêu tài chính và phi tài chính tổng hợp có thể đánh giá toàn diện tình hình “sức khỏe” của DN, với phương pháp đánh giá theo chuẩn mực quốc tế và do các tổ chức đánh giá độc lập tiến hành, XHTN DN có thể đảm bảo tính khách quan, minh bạch trong đánh giá DN.

Sử dụng XHTN DN, cơ quan quản lý nhà nước có thể lựa chọn đúng và trúng DNVVN cần nhận hỗ trợ, ngăn ngừa tình trạng cơ chế xin – cho, thiếu minh bạch và không công bằng trong tiếp nhận hỗ trợ của các DNVVN, hạn chế tình trạng quan hệ thân hữu trong tiếp nhận hỗ trợ từ phía nhà nước. Đồng thời, đảm bảo thực hiện nguyên tắc hỗ trợ DNNVV đã được nêu tại Điều 5 của Luật “Bảo đảm công khai, minh bạch về nội dung, đối tượng, trình tự, thủ tục, nguồn lực, mức hỗ trợ và kết quả thực hiện”.

XHTN giúp các cơ quan quản lý giám sát tình hình sức khỏe của các DN và có những điều chỉnh chính sách kịp thời

Như đã đề cập ở trên, XHTN với việc phân tích tình hình hoạt động của DN kỹ lưỡng có thể giúp các cơ quan quản lý nhà nước theo dõi được thực trạng hệ thống DN một cách toàn diện ở cấp độ quốc gia. Bên cạnh đó, xem xét XHTN của các DN theo ngành, vùng hay loại hình DN có thể đánh giá được mức độ rủi ro theo các cách phân loại khác nhau, từ đó có thể làm cơ sở để giúp các cơ quan quản lý nhà nước kiểm soát mức độ rủi ro và đưa ra những điều chỉnh chính sách kịp thời, đặc biệt là những chính sách liên quan đến những quy định tài chính, điều hành chính sách tiền tệ và chính sách hỗ trợ phát triển DNNVV.

Một số phương pháp XHTN cho phép đánh giá nguy cơ phá sản của DN, những DN có xếp hạng thấp ở mức cảnh báo khi có nguy cơ phá sản. Từ đó, dựa trên dữ liệu về XHTN, các cơ quan quản lý nhà nước có thể đánh giá tình hình “sức khỏe” của nền kinh tế, đặc biệt là có thể đưa ra cảnh bảo sớm khi số lượng DN có nguy cơ phá sản cao. Tuy nhiên, tỷ lệ DN có nguy cơ phá sản là bao nhiêu khi đưa ra mức cảnh báo thì cần phải có nghiên cứu sâu dựa trên dữ liệu quá khứ cùng với phương pháp chuyên gia hoặc kết hợp với các phương pháp dự báo, cảnh báo sớm khác.

-------------------------------------------

Tài liệu tham khảo: NCIF (2017), "Vai trò xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp trong thực hiện chính sách hỗ trợ DNNVV Việt Nam"

 

 

 


[1] Theo Báo cáo tình hình thực hiện về BLTD cho DNNVV theo Nghị quyết 35/2016/NQ-CP ngày 16/05/2016.

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Thông tin Doanh nghiệp & Thị trường
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202