Phân tích và Dự báo > Báo cáo khác

Bức tranh kinh tế Việt Nam 7 tháng đầu năm 2017

Cập nhật lúc: 09/08/2017 02:13:00 PM

1. Bức tranh kinh tế Việt Nam 7 tháng đầu năm 2017

Kể từ giữa quý II/2017, tình hình kinh tế - xã hội đã có chuyển biến theo hướng tích cực. Kinh tế vĩ mô tiếp tục duy trì ổn định, sản xuất trong nước dần phục hồi; lạm phát được kiểm soát, mặt bằng lãi suất, tỷ giá ổn định; môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện; xuất khẩu tăng cao, thu hút khách quốc tế và đầu tư nước ngoài đạt khá.

a. Tăng trưởng bắt đầu có tín hiệu khởi sắc kể từ giữa quý II/2017

Kinh tế Việt Nam từ giữa quý II/2017 có chuyển biến tích cực ở cả ba động lực tăng trưởng. Sự hồi phục nhẹ của ngành khai khoáng và sự ổn định đà tăng của ngành công nghiệp chế biến chế tạo đã giúp khu vực công nghiệp tăng trưởng mạnh hơn trong quý II/2017. Bên cạnh đó, đà phục hồi của khu vực nông, lâm thủy sản và đặc biệt là sự tăng trưởng bứt phá của khu vực dịch vụ cũng góp phần thúc đẩy tăng trưởng toàn nền kinh tế trong 7 tháng đầu năm. Cụ thể:

Khu vực nông, lâm, thủy sản hồi phục so với cùng kì năm trước khi những tác động tiêu cực của tình hình thời tiết khắc nghiệt và hệ lụy trực tiếp do ô nhiễm môi trường biển, theo các cơ quan chức năng, đã giảm bớt. Tính chung 2 quý đầu năm khu vực này đã tăng trưởng 2,65%, cao hơn rất nhiều so với mức tăng trưởng âm 0,18% của cùng kỳ năm trước, đóng góp 0,43% vào mức tăng trưởng chung.

+ Bước sang tháng 7, ngành nông nghiệp tiếp tục duy trì ở mức ổn định. Chăn nuôi trâu bò không xảy ra dịch bệnh lớn, chăn nuôi lợn cũng dần tháo gỡ được khó khăn khi giá thịt lợn hơi đã tăng trở lại từ mức giảm mạnh trước đó. Tuy nhiên việc khôi phục giá thịt lợn hiện tại chưa phải là biểu hiện căn cơ của quan hệ cung cầu và phát triển bền vững mà là do các Bộ ngành hữu quan đã triển khai tích cực và đồng bộ giải pháp, trong đó có kiểm soát mạnh khâu tăng đàn và thúc đẩy sức sức mua trong nước bằng rất nhiều hình thức tiêu thụ. Vì vây, diễn biến trong chăn nuôi lợn vẫn cần được theo dõi sát sao để có những giải phát kịp thời.

+ Về ngành thủy sản, nuôi trồng và đánh bắt thủy sản có nhiều khởi sắc. Tính chung 7 tháng đầu năm 2017, tổng sản lượng thủy sản ước đạt 3.928,8 nghìn tấn, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt tăng 3,9%; sản lượng thủy sản đánh bắt ước tăng 4,9% so với cùng kỳ năm 2016.

+ Về ngành lâm nghiệp, trong 7 tháng đầu năm 2017, diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt ước tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù công tác bảo vệ và phòng chống cháy rừng được quan tâm thực hiện, nhưng do thời tiết hanh khô, nắng nóng kéo dài nên vẫn xảy ra tình trạng cháy rừng, tập trung ở một số tỉnh miền núi phía Bắc và khu vực miền Trung.

Khu vực sản xuất bước sang quý II có những tín hiệu lạc quan nhờ sự cải thiện của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và ngành xây dựng.

Tính chung 7 tháng đầu năm nay, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 6,4% so với cùng kỳ năm trước (quý I tăng 4,3%, quý II tăng 7,8%), tuy thấp hơn mức tăng 7,2% của cùng kỳ năm 2016 nhưng cao hơn mức tăng 6,2% của 5 tháng đầu năm. Trong các ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo tăng xấp xỉ 11%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 8,2%; riêng ngành khai khoáng mặc dù tiếp tục giảm 7,8% (chủ yếu do khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm) tuy nhiên mức giảm đã được kìm bớt so với những tháng đầu năm.

Chỉ số nhà quản trị mua hàng Purchasing Managers’ Index (PMI) toàn phần lĩnh vực sản xuất Việt Nam đã tăng lên 52.5 điểm trong tháng 6 so với 51.6 điểm. Kết quả này cho thấy, cho thấy sức khỏe của lĩnh vực sản xuất đã được cải thiện mạnh mẽ. Sau khi chậm lại đáng kể trong tháng 5, tốc độ tăng trưởng số lượng đơn đặt hàng mới đã gia tăng trong tháng 6, đặc biệt tăng mạnh ở lĩnh vực hàng hóa tiêu dùng.

 Khu vực dịch vụ trong 07 tháng đầu năm 2017 khá sôi động. Tăng trưởng trong 2 quý đầu năm của khu vực dịch vụ ghi nhận mức tăng trưởng cao hơn 2 năm trước (6,9% so với 6,5% của năm 2016 và 5,9% của năm 2015) nhờ bán buôn và bán lẻ; dịch vụ lưu trú hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm; và hoạt động kinh doanh bất động sản đạt mức tăng khá. Bước sang tháng 7, hoạt động của khu vực này vẫn tiếp tục nhộn nhịp. Công tác quản lý thị trường được các cấp, các ngành chỉ đạo kịp thời, hiệu quả, hạn chế hàng giả và bình ổn giá góp phần đẩy mạnh hoạt động thương mại trong nước, kích thích sức mua của người tiêu dùng. Mạng lưới siêu thị, trung tâm thương mại cung ứng lượng hàng hóa dồi dào, đa dạng về mẫu mã, đảm bảo chất lượng, đáp ứng nhu cầu của người dân. Ước tính tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tính cho tháng 7 ước đạt 328,9 nghìn tỷ. Tính chung cho 07 tháng đầu năm ước đạt 2248 nghìn tỷ, tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước (đã loại trừ yếu tố giá), cao hơn nhiều so với cùng kỳ (cùng kỳ 2016 tăng 7,4%).

b. Lạm phát tháng 7 tăng nhẹ, lạm phát bình quân 7 tháng vẫn trong tầm kiểm soát

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân quí I năm nay tăng 4,65% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu gây lạm phát quí I tăng cao là do quý đầu năm trùng với dịp Tết nguyên đán nên nhu cầu về lương thực thực phẩm tăng lên, bình quân quí I chỉ số CPI nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,99% so với cùng kỳ năm trước; thêm vào đó các địa phương tiếp tục thực hiện lộ trình điều chỉnh tăng giá dịch vụ y tế và giáo dục (hết quý I giá nhóm hàng thuốc và dịch vụ y tế tăng 35,9% và giá nhóm hàng giáo dục tăng 10,2% so với cùng kỳ). Tình đến hết quí I chỉ số CPI đã tăng 0,9% so với tháng 12 năm trước.

Sang quí II, áp lực tăng giá đã giảm hẳn do giá cả lương thực và thực phẩm đã  giảm mạnh do vào mùa vụ thu hoạch (hết quí II giá hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm bình quân -0,2% so với cùng kỳ), giá dịch vu y tế chưa tăng tiếp và giá xăng dầu thế giới giảm so với quí trước. Chỉ số CPI bình quân quí II tăng 3,34% so với cùng kỳ năm trước dẫn đến CPI bình quân 6 tháng đầu năm chỉ tăng 4,15% so với cùng kỳ. Tính đến hết quí II chỉ số CPI tăng 0,2% so với tháng 12 năm trước; đây là mức tăng thấp nhất trong khoảng 10 năm gần đây.

Bắt đầu vào quí III khả năng CPI sẽ tăng trở lại, chỉ số CPI tháng 7 tăng 0,11% do giá cả thực phẩm đã tăng hơn so với tháng trước. Tính đến hết tháng 7 chỉ số CPI tăng 0,31% so với tháng 12 năm trước.

c. Khu vực ngoại thương tiếp tục đà nhập siêu

Cán cân thương mại hàng hóa bắt đầu thâm hụt từ tháng 2/2017. Tới tháng 4, cả nước có xuất siêu 185 triệu USD, phần nào làm giảm gánh nặng nhập siêu. Tuy nhiên, từ tháng 5 tới nay, tình hình nhập siêu lại quay trở lại. Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, tính tới ngày 15/7/2017, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa cả nước đạt gần 214,83 tỷ USD, tăng 20,9% (tương ứng tăng 37,09 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó, xuất khẩu hàng hóa ước đạt 105,93 tỷ USD tỷ USD, nhập khẩu hàng hóa ước đạt hơn 108,89 tỷ USD. Cán cân thương mại hàng hóa của cả nước thâm hụt hơn 2,96 tỷ USD, bằng 2,8% kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài vẫn chiếm ưu thế trong thương mại hàng hóa với 140,26 tỷ USD, chiếm 65,3% tổng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa. Xuất khẩu các mặt hàng chủ yếu đều do khu vực này chi phối thể hiện sự phụ thuộc quá mức vào khu vực FDI trong khi khu vực trong nước tỏ ra khá yếu thế trong sản xuất và xuất khẩu.[1] Tính đến hết ngày 15/07/2017, khu vực FDI xuất siêu 9.02 tỷ USD.

Xuất khẩu của 10 nhóm hàng lớn nhất đến nửa đầu năm 2017 đều tăng cao so với cùng kỳ năm 2016 và chiếm 71,6% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Nhóm hàng điện thoại các loại và linh kiện tăng 14,9% so với cùng kỳ năm trước. Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác tăng 5,9%, hàng dệt may tăng 8,5%, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 45,8%. Hàng nông sản (bao gồm: hàng rau quả, hạt điều, cà phê, chè, hạt tiêu, gạo, sắn và sản phẩm từ sắn; cao su) tăng 19,8% so với cùng kỳ.

d. Đầu tư duy trì tăng trưởng ở mức khá

Tính đến đầu tháng 7, vốn đầu tư toàn xã hội ước tính đạt 674,8 nghìn tỷ đồng (theo giá hiện hành), tăng 10,5% so với cùng kỳ năm trước và bằng 32,8% GDP, trong đó, vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước thực hiện ước tính đạt 115 nghìn tỷ đồng, bằng 38,7% kế hoạch năm và tăng 7,6% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tuy tỉ lệ giải ngân kế hoạch vốn đầu tư phát triển có chuyển biến tích cực song vẫn thấp so với yêu cầu. Tính đến cuối năm, lượng vốn đầu tư thực hiện giải ngân theo kế hoạch vẫn còn khá lớn. Để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng cả năm như kế hoạch đề ra, bên cạnh việc tăng cường thu hút các nguồn vốn đầu tư cho phát triển, trong những tháng cuối năm, các Bộ, ngành và các địa phương khẩn trương rà soát, hoàn thiện khung khổ pháp lý, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, kịp thời loại bỏ, tháo gỡ các rào cản khó khăn, vướng mắc và tạo điều kiện thuận lợi đẩy nhanh tiến độ thực hiện giải ngân và nâng cao hiệu quả các dự án đầu tư công.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài 7 tháng đầu năm tiếp tục là một trong những điểm sáng của bức tranh tổng thể của nền kinh tế vĩ mô. Tính chung, vốn FDI thực hiện 7 tháng đầu năm tăng cao so với cùng kỳ năm trước và ước tính đạt 9,13 tỷ USD (7 tháng năm 2016 đạt 8,5 tỷ USD).

 

e. Tiêu dùng 7 tháng đầu năm tăng nhẹ

Ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tháng 7 đạt 328,9 nghìn tỷ đồng, ước tăng 0,71% so với tháng trước. Tháng 7 là tháng cao điểm của mùa du lịch nên khu vực dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch đạt khá so với các tháng trước. Bán lẻ hàng hóa tăng được hỗ trợ bởi lương cơ sở tăng, giá cả nhiều mặt hàng được giữ ở mức ổn định.

Tính tổng 7 tháng đầu năm, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 2.248 nghìn tỷ đồng, tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước (đã loại trừ yếu tố giá). Mức tăng này tương đối khá so với mức tăng 7,4% cùng kỳ năm 2016. Xét theo ngành hoạt động, bán lẻ hàng hóa ước đạt 1.690 nghìn tỷ đồng, ước tăng 10% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 75% trong tổng mức bán lẻ hàng hóa. Dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 274 nghìn tỷ đồng, tăng 19% so với cùng kỳ. Dịch vụ khác ước đạt 264 nghìn tỷ đồng, tăng 13% và du lịch ước đạt 19,3 nghìn tỷ đồng, tăng 7% so với cùng kỳ. Sự hồi phục của tiêu dùng do nhiều yếu tố, đáng kể là sự đẩy mạnh phát triển các chuỗi cửa hàng bán lẻ do doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư trong những tháng đầu năm.

f. Lãi suất ổn định, tín dụng tăng trưởng khá

Trong 7 tháng đầu năm 2017, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay của các tổ chức tín dụng diễn biến ổn định. Hiện, lãi suất cho vay phổ biến khoảng 6-9%/năm đối với ngắn hạn và 9-11%/năm đối với trung và dài hạn; Lãi suất cho vay ngắn hạn từ 4-5%/năm.

Về hoạt động tín dụng, trong 7 tháng đầu năm, NHNN đã điều hành đồng bộ các giải pháp nhằm mở rộng tín dụng có hiệu quả, phù hợp với mục tiêu kiểm soát lạm phát, đảm bảo cung ứng khoảng 70% vốn đầu tư cho nền kinh tế. Cơ cấu tín dụng tập trung chủ yếu vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh với tỷ trọng khoảng 80%, nhất là các lĩnh vực ưu tiên, các dự án lớn, trọng tâm trọng điểm theo chủ trương của Chính phủ.

Ngành Ngân hàng cũng đã triển khai mạnh mẽ các chương trình tín dụng ưu đãi đối với các doanh nghiệp thuộc một số ngành, lĩnh vực đặc thù, như cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định số 55/NĐ-CP; chương trình cho vay khuyến khích phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch theo Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 07/3/2017 của Chính phủ; cho vay hỗ trợ ngư dân đóng tàu theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP; cho vay tái canh cây cà phê; cho vay hỗ trợ nhà ở; chính sách hỗ trợ khắc phục thiên tai, ngập mặn, sự cố môi trường; Hỗ trợ tháo gỡ khó khăn đối với ngành chăn nuôi lợn,...

Nhờ đó, tín dụng tăng trưởng tốt ngay từ đầu năm; đến cuối tháng 6/2017, tín dụng tăng khoảng 8%, cao hơn so với cùng kỳ năm 2016 (6,2%) điều này đã hỗ trợ tích cực cho hoạt động sản xuất kinh doanh, nhất là trong điều kiện giải ngân đầu tư công chưa được cao.

2. Triển vọng kinh tế Việt Nam những tháng cuối năm 2017

Trong những tháng còn lại của năm 2017, nền tảng cho tăng trưởng kinh tế của Việt Nam được hỗ trợ bởi các yếu tố: (1) Triển vọng khả quan của kinh tế thế giới cũng như tín hiệu tích cực từ các nền kinh tế chủ chốt sẽ tác động tích cực tới triển vọng kinh tế Việt Nam  trong năm 2017. Sự tăng giá của một số đồng tiền và triển vọng phục hồi kinh tế có thể giúp Việt Nam có cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trường lớn qua đó thể phục hồi được tốc độ tăng trưởng thương mại; và (2) những cải thiện về môi trường đầu tư, kinh doanh, triển vọng hội nhập kinh tế quốc tế và hoạt động sản xuất kinh doanh tiếp tục khởi sắc. Những cải thiện mạnh mẽ về cơ chế chính sách liên quan đến cải cách thể chế, môi trường đầu tư, kinh doanh được Chính phủ quyết liệt chỉ đạo thực hiện trong năm 2016 và đầu năm 2017 sẽ phát huy hiệu quả nhiều hơn trong những tháng cuối năm nay; hỗ trợ tốt hơn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam, qua đó thúc đẩy vốn đầu tư cho nền kinh cao hơn so với năm 2016… Cụ thể:

- Tình hình kinh tế trong nước đã có chuyển biến tích cực hơn từ giữa quý II/2017. Tăng trưởng được dự báo sẽ tiếp tục cải thiện tích cực trong 5 tháng cuối năm nhờ sự cải thiện của cả 3 động lực tăng trưởng. Trước hết là sự tăng trưởng bứt phá của khu vực dịch vụ. Tăng trưởng ấn tượng (cao nhất trong vòng 2 năm trở lại đây) của khu vực dịch vụ trong 7 tháng đầu năm là nhờ sự cải thiện mạnh trong tiêu dùng dịch vụ và hàng hóa, mức tăng khá của ngành bảo hiểm, ngân hàng. Điều này khiến khu vực dịch vụ trở thành là bệ phóng cho tăng trưởng chung. Đối với khu vực công nghiệp và xây dựng, sự cải thiện tích cực của khu vực này ngày càng hiện hữu rõ nét kể từ quý II và được dự báo sẽ tiếp tục phục hồi tích cực hơn trong những tháng còn lại của năm 2017. Cụ thể: (i) giá trị sản xuất ngành công nghiệp chế biến chế tạo sẽ được cải thiện trong những tháng cuối năm khi sản lượng sản xuất điện thoại được kỳ vọng tăng mạnh hơn (có khả năng đạt 12-13% trong năm 2017). Thực tế, trong tháng 6, sản lượng điện thoại đã tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước, cải thiện đáng kể so với mức giảm 0,6% của 5 tháng đầu năm; (ii) các biện pháp quyết liệt từ Chính phủ nhằm kích thích tăng trưởng sẽ giúp tháo gỡ khó khăn và cải thiện năng lực của khu vực sản xuất trong 2 quý còn lại của năm; (iii) chỉ số PMI tháng 6 đạt 52,5, là tháng 19 liên tiếp đạt trên 50 điểm – ngưỡng cho thấy cho thấy các điều kiện kinh doanh tiếp tục cải thiện trong lĩnh vực sản xuất; (iv) việc tăng khai thác dầu thô thêm 1,5 triệu tấn sẽ giúp kìm hãm sự giảm sút của ngành công nghiệp khai khoáng, đóng góp khoảng 0,38 điểm % vào tăng trưởng[1]. Riêng khu vực nông nghiệp sẽ tiếp tục ổn định, và đạt mức tăng trưởng cao hơn so với cùng kỳ

Theo đó, tăng trưởng toàn nền kinh tế có thể đạt mức khá khi cả ba động lực chính của tăng trưởng là khu vực nông nghiệp, công nghiệp - xây dựng, và dịch vụ cùng được cải thiện.

- Nửa cuối năm 2017, vốn FDI được dự báo sẽ đạt nhiều kết quả tích cực nhờ hưởng lợi từ nhiều yếu tố thuận lợi của nền kinh tế như (1) môi trường kinh doanh ngày càng được cải thiện; (2) kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng, nhiều hiệp định thương mại quan trọng đã được ký kết thời gian qua và chuẩn bị có hiệu lực; (3) sự đánh giá tích cực của các tổ chức và nhà đầu tư nước ngoài về triển vọng đầu tư tại Việt Nam[2]. Đồng thời,tận dụng cơ hội do hội nhập mang lại,thực hiện các giải pháp tăng cường thu hút FDI và triển khai hiệu quả các chính sách ưu đãi cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh và cải thiện môi trường kinh doanh, vốn FDI thực hiện năm 2017 duy trì mức tăng trưởng khá so với năm 2016 và đạt khoảng 15,3 tỷ USD. Dòng vốn FDI tăng được kỳ vọng sẽ là động lực quan trọng giúp hồi phục tăng trưởng xuất khẩu của cả năm 2017.

- Tăng trưởng tiêu dùng cũng được dự báo tương đối sáng sủa trong những tháng cuối năm. Có nhiều yếu tố tác động tích cực đến tăng trưởng tiêu dùng đáng kể như:

Tăng trưởng tiêu dùng được dự báo tương đối sáng sủa trong những tháng cuối năm. Với kỳ vọng tăng trưởng đạt được mục tiêu đề ra, nhiều chính sách kích thích đầu tư và sản xuất kinh doanh sẽ gián tiếp tác động đến kích cầu tiêu dùng, tạo nguồn cung hàng hóa dồi dào và giữ giá cả không có biến động lớn. Hoạt động khuyến mãi kích thích tiêu dùng vào dịp cuối năm cũng sẽ sôi động hơn so với đầu năm. Tuy nhiên, rủi ro giá cả có thể gây tác động xấu đến tiêu dùng vẫn còn hiện hữu.

+ Yếu tố thu nhập: lương cơ bản dự kiến tăng từ 1/7/2017 sẽ có tác động tích cực đến sức mua nhưng mức độ tác động không quá lớn do giá cả có thể tăng do ảnh hưởng của tăng lương.

Rủi ro tác động xấu đến tiêu dùng chỉ có yếu tố giá cả khi áp lực tăng giá vẫn còn hiện hữu. Tiêu dùng cuối cùng dự báo tăng 7,7% năm 2017 so với năm 2016.

Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế quốc tế diễn biến phức tạp, kinh tế Việt Nam sẽ còn gặp nhiều khó khăn, cụ thể là: Những thách thức từ bên ngoài do bất ổn địa chính trị thế giới, xu hướng gia tăng bảo hộ mậu dịch, việc Mỹ rút ra khỏi TPP và vấn đề chính trị hóa vốn đầu tư của Mỹ có thể tác động tiêu cực tới hoạt động thương mại và ĐTTTNN của Việt Nam;[3] Chính sách bảo hộ thương mại và thuế biên giới mà Mỹ đề xuất sẽ khiến cho xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ gặp nhiều khó khăn, trong khi Mỹ là thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam; Giá dầu đổi chiều đi xuống dưới 50$/thùng, cho thấy sự khó đoán định của thị trường này. Nếu giá dầu tiếp tục đi xuống sâu thêm nữa Việt Nam cần cân nhắc thêm việc tăng sản lượng khai thác dầu cho mục tiêu tăng trưởng; Giá các mặt hàng nông sản tiếp tục giảm sâu có thể sẽ ảnh hưởng tới xuất khẩu nông sản của Việt Nam. Vì vậy để đạt được mục tiêu tăng trưởng nông nghiệp gần 4% trong các quý tiếp theo, cần phải có giải pháp tích cực hơn trong sản xuất và thị trường trong nước;

- Tình hình lạm phát 6 tháng cuối năm dự báo sẽ còn nhiều biến động khi giá dầu thế giới diễn biến phức tạp. Trong 6 tháng cuối năm, các Bộ, ngành, địa phương tiếp tục tăng cường công tác quản lý giá, bình ổn giá theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan... nên trong thời gian tới, nhu cầu hàng hoá thị trường không có nhiều biến động. Do đó giá cả hàng hoá được dự báo vẫn sẽ ổn định, mặc dù việc tăng lương từ 1/7/2017 có thể làm tăng giá nhẹ. Dự báo chỉ số giá tiêu dùng cả năm sẽ tiếp tục được kiểm soát ở mức dưới 5%.

Dựa trên tình hình thực tế 6 tháng đầu năm và các yếu tố đề xuất trong các giải pháp cho 6 tháng cuối năm (theo Chỉ thị 24/TTg-CT ngày 02/6/2017), dự báo: khu vực Công nghiệp chế biến chế tạo tăng trưởng khá. Sản lượng khai thác dầu thô tăng thêm khoảng 1 triệu tấn so với kế hoạch. Điều hành chính sách tiền tệ và tỷ giá linh hoạt, trong đó tỷ giá và mặt bằng lãi suất tương đối ổn định, tín dụng đạt được mục tiêu đã đề ra (khoảng 18%). Tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội đạt khoảng 34% như đã nêu tại chỉ thị 24/CT-TTg. Khi đó, tăng trưởng kinh tế năm 2017 sẽ ở mức khoảng 6,5%, chỉ số giá tiêu dùng bình quân tăng khoảng 4%.

 

[1] Theo Ủy ban giám sát Tài chính quốc gia ước tính, tăng khai thác 1 triệu tấn dầu thô ước sẽ góp thêm 0,25 điểm % vào tăng trưởng.

[2]Theo báo cáo của WB (công bố ngày 11/4) cho rằng, Việt Nam là là nước có tốc độ tăng trưởng tốt so với các nước trong khu vực Đông Nam Á và nền kinh tế Việt Nam đã vượt qua được biến động toàn cầu.

Báo cáo ngày 18/5 của IMF đã đưa ra dự đoán Việt Nam sẽ đứng đầu danh sách các nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất khu vực Đông Nam Á, với mức tăng trưởng dự kiến là 6,3% trong năm 2016. tăng trưởng kinh tế của Malaysia sẽ giảm xuống 4,4% (so với mức 5% năm 2015), còn kinh tế Philippines sẽ tăng lên 6% trong năm nay (so với 5,8% năm 2015).

[3] Trong trường hợp TPP không được thông qua hoặc thông qua không có Mỹ, có thể Việt nam sẽ phải xem xét chỉnh lại 1 số luật đã ban hành theo hướng TPP được thông qua.

 

[1] Ví dụ, khu vực FDI chiếm 97,3% kim ngạch xuất khẩu hàng điện tử, máy tính và linh kiện; 91,9% xuất khẩu máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác và 60,1% kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may.

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Phân tích và Dự báo
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202