Phân tích và Dự báo > Báo cáo quý

Tình hình kinh tế - xã hội trong nước 3 tháng đầu năm 2017 và dự báo trong thời gian tới

Cập nhật lúc: 05/04/2017 03:57:00 PM

1. Tình hình kinh tế - xã hội trong nước tháng 3 và ba tháng đầu năm 2017

a. Tăng trưởng kinh tế: Tăng trưởng kinh tế quí I/2017 thấp nhất trong 3 năm gần đây.

Kinh tế Việt Nam trong 3 tháng đầu năm 2017 đã tăng trưởng chậm lại. Tốc độ tăng GDP của quý I/2017 chỉ đạt 5,1%, thấp hơn so với mức tăng 5,48% của quý I/2016 và còn khá thấp so với con số 6,12% của cùng kỳ năm 2015.

Thành tố quan trọng nhất đóng góp vào mức tăng trưởng của toàn nền kinh tế là khu vực dịch vụ đạt 6,52%, đóng góp 2,65 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng chỉ tăng 4,17% (thấp hơn rất nhiều so với mức tăng trưởng 6,72% của cùng kỳ năm 2016), đóng góp 1,46 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung. Riêng khu vực nông, lâm thủy sản, tăng trưởng quý I/2017 đạt 2,03% so với cùng kỳ, tăng cao so với mức tăng trưởng (-1,23%) của quý I/2016, đóng góp 0,24 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung.

Điểm sáng trong bức tranh tăng trưởng kinh tế  trong 3 tháng đầu năm 2017 là sự phục hồi của khu vực nông, lâm, thủy sản khi không còn phải chịu những tác động tiêu cực của tình hình thời tiết khắc nghiệt và hệ lụy trực tiếp do ô nhiễm môi trường biển giảm bớt.

Tuy nhiên, sản xuất công nghiệp trong quý I/2017 đã tăng trưởng chậm lại. Trong quí I, ngành công nghiệp tăng 3,85% so với cùng kỳ năm trước, đây là mức tăng trưởng thấp nhất kể từ năm 2011. Nguyên nhận chính là do ngành khai khoáng giảm mạnh, giảm 10% so với cùng kỳ, (cùng kỳ năm 2016 chỉ giảm 1,7%), làm giảm 0,76 điểm % mức tăng trưởng chung. Điều này  cũng cho thấy Việt Nam đang thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, trong đó mục tiêu tăng trưởng phụ thuộc vào khai thác tài nguyên đã có sự điều chỉnh và từ đó có sự tác động đến ngành khai khoáng.

Nhìn từ chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) cho thấy, trong quý I/2017, chỉ số IIP toàn ngành ước tính tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 11,4%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,3%; sản xuất và phân phối điện tăng 9,4%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,2%. Ngành xây dựng cũng tăng trưởng chậm lại, chỉ đạt 6,10%, thấp hơn tốc độ tăng 8,6% của cùng kỳ năm 2016, đóng góp 0,30 điểm phần trăm.

b. Lạm phát:

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 1 và tháng 2 là tháng có  dịp Tết nguyên đán, theo quy luật hàng năm mặt bằng  giá thị trường chịu tác động bởi nhu cầu mua sắm hàng hóa phục vụ sản xuất, chế biến cho tết Nguyên Đán. Chỉ số giá tiêu dùng CPI tháng 1 đã tăng 0,46% so với tháng trước và CPI tháng 2 tăng 0,23% so với tháng trước. Sang tháng 3 có nhiều yếu tố giảm áp lực lên mặt bằng giá. Thị trường hàng hóa dần trở lại bình thường, giá cả nhóm mặt hàng ăn uống và dịch vụ đã giảm nhẹ so với tháng trước, tuy nhiên nhóm dịch vụ y tế đã tăng cao (tăng hơn 7% so với tháng trước)  dẫn đến chỉ số giá tiêu dùng tháng 3 đã tăng 0,23% so với tháng trước trong khi CPI cơ bản không tăng so với tháng trước. Tính đến hết quí I, chỉ số giá tiêu dùng tăng 0,9% so với tháng 12 năm trước và tăng 4,65% so với cùng kỳ.

c. Đầu tư

Về vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước: Trong  các tháng đầu năm, hoạt động đầu tư, xây dựng chủ yếu tập trung vào thực hiện các dự án, công trình chuyển tiếp từ năm 2016. Chính phủ tích cực thực hiện các giải pháp nhằm huy động nguồn lực đầu tư trong xã hội và đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn ngân sách nhà nước theo Quyết định số 2562/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về kế hoạch đầu tư vốn ngân sách nhà nước năm 2017. Theo đó, trong 2 tháng đầu năm, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước tính đạt 25,46 nghìn tỷ đồng, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm trước.

Tuy nhiên, tiến độ giải ngân so với kế hoạch tại nhiều đơn vị trung ương thấp hơn so với tỷ lệ chung và số vốn giải ngân giảm hơn so với cùng kỳ năm trước như:  Bộ Giáo dục và Đào tạo  (giảm 57,8%); Bộ Tài nguyên và Môi trường (giảm 39,8%); Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (giảm 20,7%); Bộ Xây dựng ( giảm 56,9%); Bộ Công Thương (giảm 49,4%); Bộ Khoa học và Công nghệ (giảm 59%); Bộ Thông tin và Truyền thông (giảm 45,7%).

Về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài: Tiếp tục đà tăng trưởng của năm 2016, số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam quý I năm 2017 đã đạt mức cao so với cùng kỳ các năm trước cả về số dự án cấp mới, số vốn đăng ký và vốn giải ngân. Theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), tổng vốn đăng ký cấp mới, tăng thêm và góp vốn mua cổ phần là 7,71 tỷ USD, tăng 77,6% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó,  có 493 dự án mới được cấp GCNĐT với tổng vốn đăng ký là 2,917 tỷ USD (tăng 6,5%); có 223 lượt dự án đăng ký tăng vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 3,94 tỷ USD (tăng 206,4 %) và 1077 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà ĐTNN với tổng giá trị góp vốn là 852,86 triệu USD (tăng 171,5%). Vốn giải ngân ước đạt 3,62 tỷ USD, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm 2016..

Điều này có thể thấy những kỳ vọng tích cực của các nhà đầu tư về những cải cách mạnh mẽ về môi trường kinh doanh cũng như hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới của Chính phủ trong thời gian gần đây.

d. Tiêu dùng:

Tiêu dùng cuối cùng quý I/2017 ước đạt 736 nghìn tỷ đồng, tăng 6,7% so với cùng kỳ năm trước. Tốc độ tăng này tương đương với tốc độ tăng của năm 2016 nhưng tương đối thấp so với năm 2015.

e. Xuất nhập khẩu hàng hóa tăng chủ yếu do hỗ trợ của yếu tố giá

Cán cân thương mại thâm hụt do nhập khẩu tăng nhanh

Nhập khẩu hàng hóa tăng nhanh đã thay đổi cán cân thương mại quý I/2017. Trong tháng 1/2017, thương mại hàng hóa thặng dư 1,15 tỷ USD do xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 14,34 tỷ USD và 13,19 tỷ USD. Sang tháng 2 và 3/2017, nhập khẩu hàng hóa đạt 15,15 và 17,40 tỷ USD, trong khi xuất khẩu hàng hóa đạt 13,11 và 16,30 tỷ USD. Theo đó, cán cân thương mại hàng hóa quý I thâm hụt khoảng 1,9 tỷ USD, bằng 4,35% kim ngạch xuất khẩu. 

Tổng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa ước tính cho quý I/2017 là 43,73 tỷ USD và 45,63 tỷ USD, tăng tương ứng 12,8% và 22,4% so với cùng kỳ năm 2016. Mức tăng trưởng này cao hơn cùng kỳ các năm từ 2014, dựa trên nền tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa quý I/2016 chỉ đạt 6,39% còn nhập khẩu giảm tới 4,4%.

f. Thu ngân sách có sự cải thiện

Tổng thu cân đối ngân sách nhà nước thực hiện lũy kế 3 tháng đầu năm ước đạt 280,9 nghìn tỷ đồng, bằng 23,2% dự toán cả năm, tăng 15,2% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó, thu nội địa ước đạt 232 nghìn tỷ đồng, bằng 23,4% dự toán năm, tăng 13,3% so với cùng kỳ năm 2016; thu dầu thô ước đạt 11 nghìn tỷ đồng, bằng 28,9% dự toán, tăng 16% so với cùng kỳ năm 2016; và thu ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu 3 tháng đầu năm ước đạt 66,8 nghìn tỷ đồng, bằng 18,7% dự toán, thấp hơn mức 54,6 nghìn tỷ đồng của 03 tháng đầu năm 2016.

Tiến độ thu ngân sách trong thu từ dầu thô có cải thiên so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu là do giá dầu tăng.

Tổng chi NSNN 03 tháng đầu năm 2017 khoảng 284,96 nghìn tỷ đồng, bằng 20,5% dự toán cả năm. Bội chi NSNN 03 tháng năm 2017 ước đạt 4,06 nghìn tỷ đồng. Bội chi ngân sách so với quý I/2017 đã giảm đáng kể so với các năm trước. Cụ thể, quý I các năm 2014, 2015, 2016 thì Bội chi ở mức 4,9%, 4,61%, 5,54% thì quý I năm 2017 bội chi ngân sách chỉ ở mức 0,44% so với GDP.

g. Mặt bằng lãi suất tăng nhẹ, lãi suất cho vay ổn định

Trong những tháng đầu năm 2017, diễn biến lãi suất bình quân liên ngân hàng đang có chiều hướng tăng nhẹ. Tính từ 3/1/2017 đến 27/03/2017, các kỳ hạn lãi suất Qua đêm, 1 tuần, 2 tuần, 1 tháng, 3 tháng và 6 tháng đều  tăng nhẹ tương ứng ở các mức từ 4,13%, 4,44%, 4,7%, 5,18%, 5,17% và 5,21 lên mức 4,77%, 4,89%, 5,01%, 4,76%, 5,57% và 5,3%. Trong khi đó, lãi suất bình quân liên ngân hàng của kỳ hạn 9 tháng là không đổi, vẫn ở mức 5,8%.

Các yếu tố khiến lãi suất huy động tăng nhẹ bao gồm: (1) Lạm phát tăng cao hơn so với cùng kỳ năm 2015, mặc dù vẫn ở mức tương đối thấp; (2) Những áp lực về tỷ giá của những tháng đầu năm ; (3) Một số diễn biến trong hệ thống ngân hàng thời gian qua cũng thúc đẩy nhu cầu tăng cường huy động vốn;

h. Tình hình doanh nghiệp

Cho đến hết tháng 3 năm 2017, cả nước có thêm 26.478 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 271.238 tỷ đồng, tăng 11,4% về số doanh nghiệp và tăng 45,8% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm ngoái (So sánh 2016/2015: doanh nghiệp tăng 24,8%; vốn tăng 67,2%).  Thêm vào đó, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tính đến hết tháng 3 năm 2017 là 9.271 doanh nghiệp, giảm 1,1% so với cùng kỳ năm ngoái. (So sánh 2016/2015: doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng 84,1%). 

Lãi suất duy trì ổn định, tăng trưởng tín dụng tốt trong quý I/2017 so cùng kỳ các nước trước cho thấy triển vọng tích cực từ nguồn vốn đưa vào sản xuất kinh doanh ngay từ đầu năm. Nhu cầu ngoại tệ trong quý tăng cao, cộng với yếu tố tâm lý do diễn biến thị trường thế giới khiến tỷ giá tăng. Song với động thái điều hành kịp thời của NHNN, mức biến động tỷ giá không mạnh và chưa ảnh hưởng nhiều đến hoạt động DN.

Tiếp tục nỗ lực thực hiện cải thiện môi trường kinh doanh Việt Nam, thực hiện NQ 19-2017 của CP,  các bộ, ngành, địa phương đã tích cực xây dựng kế hoạch hành động cụ thể  để thực hiện nhiệm vụ cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2017, định hướng đến năm 2020.  Tuy nhiên, vẫn còn nhiều rào cản xuất phát từ điều hành chính quyền địa phương cần phải nỗ lực cải thiện trong năm nay liên quan đến tính minh bạch, chi phí không chính thức; chi phí thời gian, cạnh tranh bình đẳng.  Trong quý vẫn còn một số chính sách ban hành/dự thảo chính sách ban hành đang gây nhiều phản ứng găy gắt từ cộng đồng doanh nghiệp.

i. Lao động – việc làm, an sinh xã hội

* Thị trường lao động trong nước ổn định

Tính đến hết quý I/2017, cả nước có 54,5 triệu lao động từ 15 tuổi trở lên, tăng 104,9 nghìn người so với cùng kỳ năm 2016. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi quý I/2017 ước tính là 2,3% (trong đó khu vực thành thị là 3,21%; khu vực nông thôn là 1,82%.

Hàng năm, Quý I là thời điểm mà tình trạng lao động - việc làm trong cả nước luôn xảy ra nhiều biến động nhất. Tuy nhiên, thị trường lao động – việc làm trong quý I/2017 nhìn chung lại ổn định. Theo đánh giá chung, năm nay người lao động có nhu cầu ổn định công việc, thêm nữa là đa số các doanh nghiệp thực hiện chính sách lương, thưởng và phúc lợi tốt nên mức độ thiếu hụt lao động sau Tết không cao. Điều này cho thấy sự gắn kết cung - cầu lao động và sự chăm lo chính sách lao động của các doanh nghiệp đã được cải thiện đáng kể.

Tính đến 1/3/2017, số lao động làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, lao động làm việc trong các doanh nghiệp khai khoáng giảm 4,8%; trong ngành chế biến, chế tạo tăng 2,7%; sản xuất và phân phối điện tăng 1,3%; cung cấp nwosc, xử lý rác thải, nước thải tăng 1,1%.

* Các chính sách về an sinh xã hội được thực hiện tốt

Công tác an sinh xã hội trong quý I/2017 được chính quyền các cấp quan tâm thực hiện.  Đầu năm 2017, một số chính sách an sinh xã hội đã được ban hành và bắt đầu có hiệu lực, nhằm đảm bảo an sinh xã hội cho người dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế trong xã hội. Cụ thể, từ 1/1/2017, mức lương tối thiểu vùng áp dụng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động sẽ được điều chỉnh tăng thêm từ 180.000-250.000 đồng/tháng so với năm 2016. Bên cạnh chính sách tiền lương, Bảo hiểm xã hội Việt Nam cũng đã ban hành Công văn số 5276/BHXH-CSYT về việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người bệnh BHYT khi đang điều trị nhưng thẻ BHYT hết hạn sử dụng. Theo đó, để tạo điều kiện thuận lợi trong khám chữa bệnh BHYT, đối với trường hợp người bệnh đang điều trị tại cơ sở khám chữa bệnh nhưng thẻ BHYT hết hạn sử dụng, chi phí khám, chữa bệnh vẫn được BHXH Việt Nam thanh toán.

2. Dự báo tình hình kinh tế-xã hội trong thời gian tới            

Dự báo kinh tế Việt Nam vẫn tiếp tục đà phục hồi tích cực trong thời gian tới do những cải thiện về môi trường đầu tư, kinh doanh, triển vọng hội nhập kinh tế quốc tế và hoạt động sản xuất kinh doanh tiếp tục khởi sắc. Với những cải thiện mạnh mẽ về cơ chế chính sách liên quan đến cải cách thể chế, môi trường đầu tư, kinh doanh được Chính phủ quyết liệt chỉ đạo thực hiện trong năm 2016 và 2017 sẽ phát huy hiệu quả nhiều hơn trong năm nay, kỳ vọng rằng trong thời tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam sẽ tăng trưởng mạnh mẽ hơn, mức độ gia nhập thị trường và gia tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế sẽ tăng mạnh hơn so với năm 2016.

Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế quốc tế không mấy thuận lợi và còn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất lợi, kinh tế Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng đề ra. Những thách thức từ bên ngoài do bất ổn địa chính trị năm 2016, xu hướng gia tăng bảo hộ mậu dịch và việc rút khỏi TPP và vấn đề chính trị hóa vốn đầu tư của Mỹ có thể tác động tiêu cực tới hoạt động thương mại và đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam. Những bất ổn của kinh tế Trung Quốc và tình trạng dư thừa năng lực sản xuất của nước này có thể làm giảm nhu cầu nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam, và tăng xuất khẩu hàng hóa của Trung Quốc, cũng như những rủi ro lớn khi tiếp nhận những nhà máy, máy móc thiết bị, công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều nguyên vật liệu không thân thiện với môi trường thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài hay dưới hình thức ODA. Rủi ro về tài chính tiền tệ quốc tế sẽ tạo sức ép lên tỷ giá do chính sách tăng cường bảo hộ thương mại cũng như tăng lãi suất của Mỹ và chính sách tiền tệ cũng như rủi ro từ thị trường tài chính của Trung Quốc.

Trong khi đó, tăng trưởng trong nước cũng gặp nhiều thách thức. Động lực tăng trưởng truyền thống của Việt Nam như vốn, xuất khẩu và dựa vào khu vực công nghiệp đã không còn nhiều dư địa như những năm trước. Trong năm 2017, vốn đầu tư nước ngoài có khả năng tăng chậm lại, những lĩnh vực phụ thuộc vào vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài như công nghiệp chế biến chế tạo hay xuất khẩu sẽ chịu tác động đầu tiên. Với việc chậm xóa bỏ rào cản trong sản xuất như “chi phí không chính thức”, “tính năng động của chính quyền”, “tiếp cận đất đai” và “cạnh tranh bình đẳng” sẽ vẫn tiếp tục gây ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của cộng đồng doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, sức ép lạm phát đang gia tăng do chịu áp lực từ giá cả thế giới, sự điều chỉnh giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý và biến động tài chính tiền tệ. Áp lực tăng tỷ giá và lãi suất có thể ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất trong nước và những phản ứng dây chuyền trên thị trường bất động sản hay thị trường chứng khoán và nguy cơ tăng lạm phát. Thu ngân sách sẽ ngày càng khó khăn do thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp tiếp tục giảm theo lộ trình cũng như thực hiện các cam kết cắt giảm thuế suất thuế nhập khẩu. Tái cơ cấu kinh tế giai đoạn 2011-2015 không đạt mục tiêu nên nền tảng kinh tế vĩ mô và một số cân đối lớn chưa vững chắc cũng sẽ gây áp lực đến tiến trình tái cấu trúc và chuyển đổi mô hình tăng trưởng trong thời gian tới.

Sau đây là dự báo cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2007:


Ghi chú: 1.Theo khảo sát PCI 2016, về tính minh bạch (66% doanh nghiệp phải nhờ tới “mối quan hệ” để tiếp cận thông tin); chi phí không chính thức (66% doanh nghiệp phải trả chi phí không chính thức); chi phí thời gian (33% DN dành trên 10% thời gian trong năm để tìm hiểu và thực hiện các thủ tục hành chính); tiếp cận đất đai; cạnh tranh bình đẳng (42% DN cho rằng tỉnh ưu tiên thu hút FDI hơn là phát triển tư nhân trong nước; 38% cho rằng Tỉnh ưu ái cho các tổng công ty, tập đoàn trong nước).

Tài liệu tham khảo:

2.Dự thảo Nghị định về hàng hoá, dịch vụ, địa bàn thực hiện độc quyền nhà nước trong hoạt động thương mại của Bộ Công thương, Nghị quyết 148/2016/NQ-HĐND của Hội đồng Nhân dân TP Hải Phòng có hiệu lực từ ngày 1/1/2017 quy định về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí sử dụng công trình, kết cấu hạ tầng, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng trong khu vực cửa khẩu cảng biển Hải Phòng).

3. GSO. Tình hình kinh tế xã hội quý I/2017.

 

 

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Phân tích và Dự báo
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202