Tin Kinh tế- xã hội  > Doanh nghiệp

Kết nối doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước – bài toán khó

Cập nhật lúc: 30/03/2017 12:00:00 AM

Năm 2017 là dấu mốc đánh dấu 30 năm Việt Nam mở cửa thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Trong những năm qua, kim ngạch xuất khẩu của khối doanh nghiệp FDI đã chiếm 2/3 tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, tỷ trọng đóng góp cho GDP xấp xỉ 20% và tạo ra hàng triệu việc làm cho người lao động. Tuy nhiên, sự liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước vẫn chưa thực sự chặt chẽ và hiệu quả. Do vậy, câu hỏi làm sao cho doanh nghiệp trong nước kết nối được với doanh nghiệp FDI và tham gia được vào chuỗi giá trị toàn cầu luôn được Chính phủ và các Ban/ngành đặt ra. Hôm nay, Biên tập viên (BTV) Cổng thông tin điện tử của Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế  - xã hội quốc gia (NCIF Portal) đã có buổi phỏng vấn với Tiến sỹ Lương Văn Khôi (Phó Giám đốc Trung tâm) nhằm phần nào giải đáp được câu hỏi trên.

TS. Lương Văn Khôi

BTV: Thưa TS. Lương Văn Khôi, theo đánh giá của ông, vai trò của doanh nghiệp FDI và những đóng góp của khối FDI đối với nền kinh tế của Việt Nam là gì?

TS. Lương Văn Khôi:  Khu vực FDI có vai trò rất quan trong nền kinh tế nước ta, Đảng và Nhà nước đã thừa nhận khu vực FDI là một trong ba trụ cột quan trọng của nền kinh tế nước ta bao gồm khu vực kinh tế nhà nước, khu vực kinh tế ngoài Nhà nước và khu vực FDI. Việt Nam tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa với xuất phát điểm thấp, các nguồn lực nhỏ bé và yếu kém. Do vậy, việc huy động và sử dụng nguồn vốn FDI đóng vai trò quan trọng trong phát triển đất nước. Thứ nhất là bổ sung nguồn vốn cho đầu tư phát triển. Thứ hai là tiếp nhận, chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lý tiên tiến, kỹ năng kinh doanh quốc tế, mở rộng thị trường, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động...

Tính đến ngày 20/12/2016, cả nước đang có 22.509 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đạt gần 293,25 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế của các dự án FDI ước đạt hơn 154,54 tỷ USD (bằng gần 53% tổng vốn đăng ký còn hiệu lực).

Khu vực FDI đã đầu tư vào 19 trong tổng số 21 ngành, trong đó lĩnh vực công nghiệp chế biến và chế tạo chiếm tỷ trọng lớn nhất (chiếm 58,8% tổng vốn đăng ký), kinh doanh bất động sản đứng thứ hai (chiếm 17,7% tổng vốn đăng ký).

Có 116 quốc gia và vùng lãnh thổ đã đầu tư vào Việt Nam, trong đó Hàn Quốc là nhà đầu tư lớn nhất với 5.747 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký hơn 50,7 tỷ USD (chiếm 17,3% tổng vốn đầu tư); đứng thứ 2 là Nhật Bản với 3.280 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký hơn 42 tỷ USD (chiếm 14,3% tổng vốn đầu tư).

Chúng ta có thể nhận thấy một số đóng góp nổi bật của khu vực FDI đối với nền kinh tế của Việt Nam như sau:

(1) Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế:  Đóng góp FDI vào GDP năm 2015 là hơn 17%;  Thu ngân sách hơn 23 tỷ USD giai đoạn 2011-2015.

(2) Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại: Thúc đẩy phát triển nhiều ngành công nghiệp và sản phẩm mới; góp phần hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực của nền kinh tế như: dầu khí, điện tử, CNTT, thép, ximăng; FDI làm xuất hiện nhiều dịch vụ mới có chất lượng cao như: ngân hàng, bảo hiểm, kiểm toán, vận tải biển, logistic, khách sạn, văn phòng, căn hộ cho thuê.

(3) Tăng quy mô vốn đầu tư cho nền kinh tế: giai đoạn 2011-2015, khu vực FDI đóng góp trên 22% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.

(4) Nâng cao trình độ công nghệ: Thông qua FDI, Việt Nam tiếp cận với công nghệ tiên tiến của thế giới để phát triển các ngành kinh tế sử dụng công nghệ hiện đại như: ngân hàng, cơ khí chính xác, điện tử, công nghiệp phần mềm, bưu chính - viễn thông, công nghệ sinh học… Thúc đẩy phát triển các khu chế xuất, khu công nghiệp với trình độ công nghệ tiên tiến

(5) Thúc đẩy xuất nhập khẩu, mở rộng quan hệ đối ngoại và tăng khả năng hội nhập kinh tế quốc tế: xuất khẩu của khu vực FDI hiện nay chiếm khoảng70% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước cả nước. Vì vậy, cán cân thương mại không những được cải thiện mà còn xuất siêu trong vài năm gần đây.

BTV: Ông đánh giá thế nào về ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam và năng lực của các doanh nghiệp trong nước trong việc đáp ứng yêu cầu của ngành công nghiệp phụ trợ?

TS. Lương Văn Khôi:  Điều đầu tiên cần đề cập là nhìn chung công nghệ phụ trợ Việt Nam vẫn còn chậm phát triển do quy mô công nghiệp phụ trợ trong nước còn đơn giản, nhỏ, lẻ, chủ yếu sản xuất các linh kiện chi tiết giản đơn, giá trị gia tăng thấp và có sự chênh lệch về năng lực đối với các yêu cầu của các hãng sản xuất toàn cầu.Về tình hình cung ứng sản phẩm công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam hiện nay, theo ông Yasuzumi Hirotaka, Trưởng Văn phòng đại diện JETRO tại TP.HCM, trong năm 2016, tỷ lệ nội địa hoá (tính riêng khối chế tạo) của Việt Nam là 34,2%, tăng không đáng kể so với năm 2015 (32,1%). Tỷ lệ này cao hơn Phillipines (31.6%), nhưng vẫn thấp hơn nhiều so  với Trung Quốc (67.8%) , Thái Lan (57.1%), Indonesia  (40.5%). Tỷ lệ linh, phụ kiện được cung ứng bởi doanh nghiệp nội địa mới chỉ chiếm 14,1%, tăng nhẹ so với mức 13,2% năm 2015, riêng các doanh nghiệp ở khu vực phía Nam thì đạt tỷ lệ 16,7%, giảm so với mức 17,1% trong năm 2015.

Có thể nhận thấy hầu như các doanh nghiệp FDI có chuỗi cung cấp riêng của họ nên việc cung cấp linh kiện cho các doanh nghiệp này chủ yếu từ các doanh nghiệp nước ngoài, song tình trạng này đang có những tín hiệu tích cực ban đầu. Điển hình là Công ty Cát Thái (thuộc Tập đoàn Phương Anh - PATC Group) đã trở thành nhà cung cấp phần lớn các linh kiện nhựa trong máy in chuyên nghiệp của Tập đoàn Konica Minolta (là khách hàng lớn nhất), máy giặt và tủ lạnh Sanyo, tai nghe của Foster, mascara của Shiseido, thiết bị điện cho Shneider Electric… Ngoài ra, Công ty còn tham gia vào chuỗi giá trị của các tập đoàn lớn ở nước ngoài. Hiện tỷ trọng khách hàng Nhật Bản của doanh nghiệp này chiếm 70%, 30% còn lại là doanh nghiệp châu Âu, Mỹ.

Nhìn chung giá trị gia tăng nội địa trong hàng xuất khẩu của Việt Nam ở mức thấp, trong khi giá trị gia tăng nước ngoài có trong tổng kim ngạch xuất khẩu (KNXK) hàng hóa của Việt Nam lại cao (phụ thuộc vào nguồn đầu vào từ nước ngoài cao). Điều này cho thấy Việt Nam có tỷ lệ tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu thấp hơn các nước láng giềng.  Tuy nhiên, có những dấu hiệu tích cực cho thấy tình hình này đã và đang được cải thiện và giá trị nội địa tăng thêm của nhiều ngành được cải thiện rõ rệt. Đặc biệt là giá trị nội địa tăng thêm của hàng dệt may xuất khẩu hiện nay tăng hàng năm, năm 2016 đạt >52% (2015: 51.2%). FDI có 1865 doanh nghiệp FDI là các dự án lớn (77 triệu USD/dự án) tổng VĐT 14,8 tỷ USD. Khu vực  FDI chiếm 65% tổng kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may của Việt Nam. Tỷ lệ nội địa trong sản phẩm xuất khẩu tăng lên. Trong lĩnh vực sản xuất xe máy, điện gia dụng, trong đó ngành điện gia dụng đạt tỷ lệ nội địa hoá khá cao đến 70-80% và cũng đã có nhiều tập đoàn lớn của Nhật, Đài Loan đầu tư góp vốn liên doanh xây dựng các nhà máy sản xuất linh kiện, phụ tùng tại Việt Nam.

BTV. Trong thời gian qua, việc kết nối giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước còn khá mờ nhạt. Theo ý kiến của ông, đâu là những nguyên nhân chính của việc này?

TS. Lương Văn Khôi: Cần phải thừa nhận thực tế rằng doanh nghiệp Việt Nam chưa đáp ứng được nhu cầu về công nghiệp phụ trợ nên nhiều năm qua chúng ta thu hút FDI nhưng hiệu quả đối với sự kết nối giữa FDI với các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam gần như bằng không. Điều này có một số nguyên nhân:

(1) Mấy chục năm qua chúng ta đã bàn nhiều về phát triển công nghiệp phụ trợ và cũng đã có chiến lược cho việc phát triển công nghiệp phụ trợ. Song định hướng chính sách của ta thì đủ thứ, chưa xác định được ngành mũi nhọn (cần nhấn mạnh là hiện nay ta đã xác định nhiều ngành mũi nhọn) và chưa vạch ra một lộ trình rõ ràng, chi tiết, nên khi triển khai thì mơ hồ, không nhất quán và không đạt kết quả như mong đợi. 

(2) Chất lượng sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam luôn là lý do để các doanh nghiệp FDI từ chối liên kết hoặc nhận làm thầu phụ. Việt Nam thiếu các trung tâm hỗ trợ kỹ thuật của Nhà nước được đầu tư bài bản, có máy móc thiết bị hiện đại để trợ giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) trong việc kiểm định, đo lường, đánh giá chất lượng sản phẩm hàng hóa mà các DNNVV sản xuất ra đáp ứng các tiêu chuẩn do các doanh nghiệp FDI đề ra.

(3) Bên cạnh đó, Chúng ta chưa có một chiến lược thu hút FDI có tính đột phá, rõ ràng, định hướng đâu là thế mạnh của Việt Nam (nên giới hạn vài ngành, chứ không phải hàng chục ngành), đặc biệt là những ngành mà Việt Nam có khả năng hấp thụ công nghệ.

BTV. Theo ông, doanh nghiệp trong nước đang yếu kém ở những điểm nào làm hạn chế chuyển giao công nghệ từ các doanh nghiệp FDI? 

TS. Lương Văn Khôi: Những yếu kém của doanh nghiệp trong nước làm hạn chế khả năng chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp FDI gồm:

- Thứ nhất, khoảng cách công nghệ giữa các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước xa, năng lực hấp thu công nghệ của doanh nghiệp và lao động trong nước thấp.

- Thứ hai, các doanh nghiệp trong nước chủ yếu là doanh nghiệp và nhỏ, tiềm lực vốn yếu nên không bỏ kinh phí đầu tư cho nghiên cứu đổi mới công nghệ, do đầu tư tốn kém, khả năng thất bại cao.

­- Thứ ba, do hàng nhập khẩu trong lĩnh vực phụ trợ đang rẻ hơn hàng trong nước, nên doanh nghiệp FDI không có lý do để setup và chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp cung cấp (upstream) trong nước;

- Thứ tư, các doanh nghiệp upstream trong nước chủ yếu có quy mô nhỏ, không đáp ứng được các đơn hàng lớn. Do vậy, các doanh nghiệp FDI khó thiết lập được các mối liên kết với các doanh nghiệp trong nước.

- Thứ năm, đa số doanh nghiệp trong nước cũng còn khá dè dặt trong việc tiếp cận với các doanh nghiệp FDI, chỉ coi các doanh nghiệp FDI như đối tác cạnh tranh chứ chưa chủ động tìm kiếm các cơ hội liên kết từ các doanh nghiệp FDI.

BTV. Theo ông, Việt Nam cần có những giải pháp gì để tăng cường liên kết giữa khu vực doanh nghiệp FDI và khu vực doanh nghiệp trong nước?

TS. Lương Văn Khôi: Theo tôi, Việt Nam cần phải có những giải pháp sau đây:

(1) Tập trung vào việc thu hút FDI thâm dụng công nghệ, có hiệu ứng lan tỏa cao, kết nối với công nghiệp trong nước. Chính phủ cần có các chính sách thỏa đáng để hỗ trợ phát triển công nghiệp phụ trợ cho một số ngành trọng điểm, xây dựng chuỗi giá trị và có chính sách trợ giúp phát triển doanh nghiệp theo chuỗi giá trị. Trên cơ sở đó Nhà nước cần có những ưu đãi thỏa đáng cho các doanh nghiệp FDI tham gia vào liên kết. Đồng thời Nhà nước cần có những quy định khắt khe với các nhà đầu tư nước ngoài như tỷ lệ nội địa hóa, chuyển giao công nghệ bắt buộc, hoạt động nghiên cứu và triển khai,…

 (2) Nhà nước có vai trò tạo môi trường pháp lý cho việc kết nối, trợ giúp về luật pháp, chính sách và kỹ thuật, định hướng việc kết nối kinh doanh theo các chuỗi giá trị; các DNNVV của Việt Nam đóng vai trò là các vệ tinh cung cấp các linh phụ kiện cho các doanh nghiệp FDI. Theo kinh nghiệm của nhiều nước, Việt Nam cần dự báo xu hướng công nghệ trong tương lai, trên cơ sở đó cần bỏ tiền ra để mua các công nghệ đó. Chính phủ có thể thành lập các viện nghiên cứu (từ ngân sách Nhà nước). Ban đầu, các viện này nhận chuyển giao công nghệ từ các FDI trong nước cũng như tại các công ty xuyên quốc gia, công ty đa quốc gia ở nước ngoài  và tại công ty mẹ của các doanh nghiệp FDI bằng hình thức trả tiền. Các Viện nghiên cứu này sau khi tiếp nhận và áp dụng được công nghệ được mua lại từ nước ngoài, từ phát triển công nghệ mới, sau đó tiến hành cổ phần hóa các viện này để khu vực tư nhân tự phát triển hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D).

(3) Chính phủ cần có giải pháp phù hợp để khuyến khích Các các tập đoàn, doanh nghiệp lớn, các doanh nghiệp nhà nước có thể thực hiện thâu tóm các doanh nghiệp FDI phụ trợ của nước ngoài (doanh nghiệp đang sản xuất kinh doanh và tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, nghĩa là họ cung cấp các linh, phụ kiện cho các tập đoàn đa quốc gia, công ty kinh doanh quốc tế) để từ đó có thể sản xuất các linh kiện, phụ kiện phục vụ cho nhu cầu của các doanh nghiệp FDI và các tập đoàn đa quốc gia. Các doanh nghiệp này sẽ nắm được các mối đầu ra, đầu vào của doanh nghiệp mà họ thâu tóm; có được công nghệ sản xuất hàng phụ trợ của doanh nghiệp này và được thừa hưởng lượng khách hàng sẵn có của các doanh nghiệp ngoại; chen chân vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Trên cơ sở đó doanh nghiệp Việt sẽ tạo ra được vị thế đối với các doanh nghiệp FDI quốc tế, công ty đa quốc gia, có được các nhà máy, sản phẩm có thể cung cấp cho những doanh nghiệp này để từ đó có được thương hiệu, tên tuổi và các mối quan hệ. Từ đây, mối liên kết giữa các doanh nghiệp FDI quốc tế với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước được hình thành.

(4) Trong mối quan hệ này chất lượng nguồn nhân lực tại Việt Nam đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp FDI đóng vai trò then chốt. Cần gắn kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo; phát triển các chương trình dạy nghề, đào tạo kỹ thuật có tính thực tiễn hơn, phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp. Nhà nước cần có chính sách nhà cung cấp toàn cầu như Malaysia trong đó hỗ trợ 80% chi phí đào tạo lao động cho các DNNVV được chọn, chương trình đầu tư do các công ty thành viên quản lý, giảng viên đến từ các khu công nghiệp. Về mặt dài hạn, cần cải cách hệ thống giáo dục Việt Nam đảm bảo cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu các công ty đa quốc gia.

 (5) Chính phủ cần thành lập và đưa vào hoạt động một cách có hiệu quả các khu công nghệ cao, tổ hợp công nghệ. Tại đây, có viện nghiên cứu, có trung tâm chuyển giao kỹ thuật cho DNNVV, có các doanh nghiệp FDI và các DNNVV. Chính phủ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện đại và tiện ích cho các doanh nghiệp phát triển. Các trung tâm tư vấn kỹ thuật cung cấp dịch vụ tư vấn kỹ thuật, nghiên cứu các vấn đề kỹ thuật mới theo yêu cầu của doanh nghiệp, hỗ trợ đầu tư nguồn nhân lực.

(6) Chất lượng sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam luôn là lý do để các doanh nghiệp FDI từ chối liên kết hoặc nhận làm thầu phụ, trong khi đó bản thân các DNNVV không có đủ phương tiện kỹ thuật để giám định kiểm tra chất lượng hàng hóa đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp FDI. Do đó, Chính phủ cần thành lập các trung tâm hỗ trợ kỹ thuật của Nhà nước được đầu tư bài bản, có máy móc thiết bị hiện đại để trợ giúp các DNNVV trong việc kiểm định, đo lường, đánh giá chất lượng sản phẩm hàng hóa mà các DNNVV sản xuất ra đáp ứng các tiêu chuẩn mà các doanh nghiệp FDI đề ra.

(7) Chính phủ cần có các chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp FDI khi các doanh nghiệp này mua nhiều sản phẩm của các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp FDI này kết nối với doanh nghiệp trong nước , đồng thời có những ưu đãi đối với các doanh nghiệp trong nước được các tập đoàn xuyên quốc gia lựa chọn cung cấp thiết bị như hỗ trợ chi phí đào tạo và hưởng các ưu đãi về thuế.

BTV. Cảm ơn ông về buổi phỏng vấn này!

 

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: BBT
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202