Giới thiệu

Những nỗ lực của Việt Nam trong ứng phó với biến đổi khí hậu

Cập nhật lúc: 17/01/2017 04:13:00 PM

Biến đổi khí hậu (BĐKH) đã và đang là một trong những thách thức lớn của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Theo báo cáo về Chỉ số rủi ro khí hậu toàn cầu do tổ chức Germanwatch công bố, Việt Nam xếp hạng thứ 7 trong 10 nước chịu ảnh hưởng lớn nhất của hiện tượng khí hậu cực đoan giai đoạn 1995 - 2014. Cũng theo báo cáo Biến đổi khí hậu 2014 của IPCC, trong tất cả mọi kịch bản phát thải khí nhà kính được khảo sát đánh giá, nhiệt độ bề mặt trái đất đều dự báo sẽ tăng trong thế kỷ XXI. Nhiều khả năng những đợt nắng nóng sẽ xảy ra thường xuyên hơn, kéo dài hơn và mưa tuyết sẽ trở nên khắc nghiệt hơn, thường xuyên hơn tại nhiều khu vực. Đại dương sẽ tiếp tục ấm lên và axit hóa; mực nước biển trung bình trên toàn cầu sẽ tiếp tục dâng cao. Nhận thấy rõ những ảnh hưởng của BĐKH trong dài hạn, Việt Nam đã rất nỗ lực trong việc ứng phó với BĐKH thể hiện qua các chính sách và hoạt động cụ thể.

Việt Nam tham gia Công ước khung của Liên Hợp Quốc về BĐKH (UNFCCC) vào năm 1992 và phê chuẩn năm 1994; đã ký Nghị định thư Kyoto năm 1998 và phê chuẩn năm 2002; đã thành lập Ban chỉ đạo quốc gia thực hiện Công ước Khí hậu và Nghị định thư Kyoto; đã gửi Ban thư ký Công ước khí hậu Thông báo quốc gia lần thứ nhất (2003), Thông báo quốc gia lần thứ hai (2010), Báo cáo Cập nhật hai năm một lần lần thứ nhất (2014), phản ánh những nỗ lực mới nhất về ứng phó với BĐKH và kiểm kê khí nhà kính (KNK). Năm 2008, Chính phủ đã ban hành Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH (NTP-RCC). Vấn đề BĐKH đã được lồng ghép vào Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội quốc gia (2011-2020), Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (2011-2015), chính sách giảm nhẹ rủi ro thiên tai, quản lý vùng bờ, cung cấp và sử dụng năng lượng. Các ngành và các địa phương đã xây dựng Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH. Năm 2011, Chiến lược quốc gia về BĐKH đã được ban hành, xác định mục tiêu cho các giai đoạn 2011-2015, 2016-2050 và các dự án ưu tiên thực hiện trong giai đoạn 2011-2015. Năm 2012, Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh đã được phê duyệt, xác định mục tiêu giảm nhẹ phát thải KNK và các giải pháp để thực hiện; ban hành quy định về liên kết tới các thị trường các-bon quốc tế. Năm 2013, Luật Phòng, chống thiên tai được ban hành nhằm giải quyết các hiểm họa tự nhiên có tác động đến đất nước, trong đó chủ yếu là những hiểm họa do BĐKH. Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 bao gồm một chương đầy đủ về BĐKH. Việc xây dựng và thực hiện những chủ trương, chính sách, hoạt động ứng phó với BĐKH nêu trên chủ yếu dựa vào nguồn lực trong nước.

Với những nỗ lực trên, Việt Nam đã đạt được những kết quả nhất định trong việc ứng phó với BĐKH và giảm phát thải KNK. Tính đến tháng 6/2015, Việt Nam có 254 dự án Cơ chế phát triển sạch (CDM) được Ban chấp hành quốc tế về CDM (EB) công nhận. Việt Nam xếp thứ 4 trên thế giới về số lượng dự án, với tổng lượng KNK tiềm năng giảm khoảng 137,4 triệu tấn CO2 tương đương trong thời kỳ tín dụng. Trong số 254 dự án, các dự án về năng lượng chiếm 87,6%, xử lý chất thải chiếm 10,2%, trồng rừng và tái trồng rừng chiếm 0,4% và các loại khác chiếm 1,8%. Số chứng chỉ giảm phát thải được chứng nhận (CER) được EB cấp đến nay là trên 12 triệu, đứng thứ 11 trên thế giới. Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong bảo vệ rừng, trồng rừng và tái trồng rừng và là một trong những quốc gia tham gia thực hiện Chương trình Giảm phát thải KNK thông qua các nỗ lực hạn chế mất rừng và suy thoái rừng, quản lý rừng bền vững, bảo tồn và nâng cao trữ lượng các-bon rừng (REDD+). Năm 2010, tổng lượng phát thải KNK của Việt Nam là 266 triệu tấn CO2 tương đương, chỉ chiếm khoảng 0,5% tổng phát thải KNK toàn cầu và mức phát thải bình quân đầu người là 2,84 tấn CO2 tương đương.

Tiếp tục những hành động trên, ngày 03/11/2016, Việt Nam đã phê duyệt Thỏa thuận Paris về BĐKH, thể hiện nỗ lực và trách nhiệm cùng cộng đồng quốc tế chung tay ứng phó với BĐKH. Theo đó, Việt Nam đã đưa ra lộ trình giảm phát thải KNK và được pháp lý hóa trong Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC). Mục tiêu là đến năm 2030, Việt Nam sẽ giảm 8% lượng phát thải KNK và con số này sẽ tăng lên 25% nếu nhận được sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế. Đồng thời, dự kiến thực hiện 45 phương án giảm phát thải, hấp thụ KNK ở 4 lĩnh vực, trong đó tiềm năng giảm phát thải lớn nhất là nông nghiệp (41,8%). Ngoài ra, sự quan tâm của cộng đồng cũng như sự chung tay, góp sức của tất cả các bên liên quan cũng thể hiện sự nỗ lực, không chỉ của Chính phủ, trong ứng phó với BĐKH tại Việt Nam.

-----------------------

Tài liệu tham khảo:

1. Đóng góp dự kiến do quốc gia tự quyết định của Việt Nam.

2. Sonke Kreft, David Eckstein, Lukas Dorsch, Livia Fischer, 2016. Global Climate Risk Index 2016. Germanwatch, German.

3. IPCC, 2014. Climate Change 2014: Synthesis Report. Contribution of Working Groups I, II and III to the Fiffth Assessment Report of the Intergovernmental Panel on Climate Change [Core Writing Team, R.K. Pachauri and L.A. Meyer (eds.)]. IPCC, Geneva, Switzerland, 151pp.

4. MONRE, 2014. Báo cáo cập nhật hai năm một lần (lần thứ nhất) của Việt Nam cho Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu.

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Trần Thị Phương Ly (Ban Tổng hợp)
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202