Giới thiệu

Sự tham gia của người cao tuổi Việt Nam vào các hoạt động kinh tế

Cập nhật lúc: 26/12/2016 12:00:00 AM

Các phân tích ở mức hộ gia đình cho thấy ngày càng có nhiều hộ gia đình có người cao tuổi và cũng ngày càng nhiều hộ gia đình có người cao tuổi tham gia lực lượng lao động. Mặc dù tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của người cao tuổi và người đang trong độ tuổi lao động đều có xu hướng tăng qua thời gian, tốc độ tăng ở nhóm dân số đang trong độ tuổi lao động thấp hơn đáng kể so với tốc độ tăng ở nhóm dân số cao tuổi. Các kết quả phân tích đã cho thấy một bộ phận không nhỏ người cao tuổi Việt Nam không ‘phụ thuộc’ và xu hướng này qua thời gian ngày càng thể hiện rõ nét hơn.

Người cao tuổi có những đóng góp đáng kể vào lực lượng lao động thực tế tại Việt Nam và người cao tuổi ngày càng tham gia nhiều hơn vào thị trường lao động trong suốt 15 năm qua. Hình 1 cho thấy xu hướng gia tăng rõ rệt trong tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của người cao tuổi ở cả hai giới. Trong năm 1999, có khoảng một phần năm phụ nữ và một phần ba nam giới từ 60 tuổi trở lên tham gia vào lực lượng lao động. Sau hơn 15 năm, vào năm 2015, tỷ lệ này đã tăng lên và chiếm tỷ lệ khoảng một phần ba số phụ nữ và một nửa số nam giới cao tuổi. Trong suốt hơn 15 năm đó, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nam giới luôn cao hơn phụ nữ cao tuổi. Tuy nhiên, có một điểm đáng chú ý là khác biệt trong tham gia lực lượng lao động giữa phụ nữ và nam giới cao tuổi đang được thu hẹp dần theo thời gian do ngày càng có nhiều phụ nữ cao tuổi tham gia vào lực lượng lao động hơn.

Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của người cao tuổi ở Việt Nam là tương đương với tỷ lệ bình quân của các nước kém phát triển, nhưng cao hơn nhiều so với tỷ lệ ở các nước phát triển. Báo cáo của Liên hợp quốc năm 2015 cho thấy có tới 30% nam giới cao tuổi và trên 14% phụ nữ từ 65 tuổi trở lên vẫn tham gia lực lượng lao động. Tỷ lệ này ở các nước kém phát triển là 37% ở nam giới và 17.5% ở phụ nữ cao tuổi; còn ở các nước kém phát triển nhất là 59.1% ở nam giới và 34.5% ở phụ nữ cao tuổi. Ngược lại với xu hướng gia tăng tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của người cao tuổi tại Việt Nam, báo cáo của Liên hợp quốc tỷ lệ này tại các khu vực kém phát triển cũng như trên toàn cầu có xu hướng giảm trong giai đoạn 1990 đến 2014; xu hướng này cũng được dự đoán sẽ vẫn được tiếp tục duy trì ổn định cho đến năm 2020. Bên cạnh đó, các kết quả phân tích từ báo cáo này của Liên hợp quốc cũng như kết quả từ một phân tích khác ở Hàn Quốc và Thái Lan (Ogawa 1993) cũng chỉ ra rằng nam giới chiếm phần lớn lực lượng lao động cao tuổi; các kết quả này cũng tương tự như kết quả đã thấy ở Việt Nam. So với các nước khác trong khu vực, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của người cao tuổi Việt Nam thấp hơn một số nước khác như Myanmar (66%) hoặc Indonesia (69%), nhưng cao hơn mức trung bình của Châu Á (15.6%).

Hình 1: Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của dân số cao tuổi (60+) và dân số trong độ tuổi lao động (15-59), giai đoạn 1999-2015

Các kết quả phân tích được trình bày trong Hình2 cho thấy quan hệ giữa tỷ lệ tham gia lực lượng lao động và tuổi ở Việt Nam cũng có hình dáng chữ U ngược đặc trưng của mối quan hệ này. Cũng tương tự như kết quả được tìm thấy từ các nghiên cứu khác, ví dụ như nghiên cứu từ Thái Lan và Hàn Quốc, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động ở người cao tuổi giảm dần khi tuổi tăng lên.

Trong khi tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nhóm dân số trong độ tuổi từ 25 đến 59 ngày càng tăng, tỷ lệ này trong thanh thiếu niên hay người từ 15 đến 24 tuổi lại có xu hướng giảm. Hình 2 cho thấy tỷ lệ tham gia lực lượng lao động ở tất cả các nhóm tuổi từ 25 tuổi đổ lên đều tăng trong giai đoạn từ 1999 đến 2015 và đặc biệt tăng mạnh trong giai đoạn giữa 1999 và 2009. Phân tích sâu hơn hiện tượng này (như có thể thấy ở Hình 1) cho thấy nguyên nhân chủ yếu dẫn tới xu hướng giảm này là do sự sụt giảm tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nữ thanh niên khi tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nam thanh niên trong cùng độ tuổi vẫn duy trì ổn định.

Hình 2: Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động theo nhóm tuổi, 1999-2015

Ở tất cả các nhóm tuổi, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động ở nam giới luôn cao hơn nữ giới. Hình 3 cho thấy đại đa số (hơn 90%) nam giới trong độ tuổi 25 đến 49 tham gia lực lượng lao động. Trong khi đó, tỷ lệ này ở nữ giới trong cùng nhóm tuổi luôn thấp hơn so với nam giới khoảng 5%. Có rất nhiều yếu tố tạo ra sự khác biệt này, ví dụ như phân công lao động trong gia đình, quan niệm xã hội về vai trò của phụ nữ trong hoạt động kinh tế, thái độ giới trong việc sử dụng lao động nữ. Ở các nhóm tuổi trẻ hơn, việc nuôi con có thể là một nguyên nhân quan trọng. Một mặt, việc mang thai và chăm sóc con cái không cho phép phụ nữ tham gia vào lực lượng lao động. Mặt khác, chính việc mang thai và nuôi dưỡng con cái cũng cản trở phụ nữ quay trở lại với thị trường lao động. Khác biệt lớn nhất được thấy ở nhóm tuổi từ 55 đến 59. Kết quả này có thể có liên quan đến quy định về tuổi nghỉ hưu trong Luật lao động khi cho nữ nghỉ hưu ở tuổi 55 và nam ở tuổi 60.

Hình 3: Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động theo giới tính, 2015

Các bằng chứng được sử dụng trong bài này đã cho thấy một bộ phận không nhỏ người cao tuổi ở Việt Nam đã tham gia vào quá trình già hóa tích cực và ngày càng tích cực hơn trong hơn một thập kỷ qua. Gần một nửa số nam giới và khoảng một phần ba số phụ nữ vẫn tiếp tục tham gia lực lượng lao động khi đã về già. Tỷ lệ người cao tuổi tham gia vào lực lượng lao động tăng rõ từ 1999 đến nay. Ngược lại, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của thanh thiếu niên lại giảm sút trong cùng khoảng thời gian vài thập kỷ qua. Như một hệ quả tất yếu, hai quá trình này đã dẫn đến tình trạng già hóa lực lượng lao động trong 5 năm qua. Tuổi trung vị của lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đã tăng từ 37 vào năm 2010 lên 40 vào năm 2015 hay ngày càng có nhiều người cao tuổi tham gia lực lượng lao động hơn và lực lượng này đang ngày càng già hơn.

Tài liệu tham khảo:

1. Implications of population ageing for the labour market: Labor Market trends, Dixon Sylvia, 2003;

2. Older workers: Strategies to extend working lives. 18th Annual Conference of the Australian & New Zealand Academy of Management Proceedings, Shacklock Kate Herring, 2004;

3. Introducing Active Ageing Index: Policy brief, EC and UNECE, 2013;

4. World Population Ageing 2015. New York: Department of Economic and Social Affairs, Population Division, United Nations, 2015;

5. Addressing Impacts of Population Ageing on Labour Force Participation: Strategic Policy group - Preliminary Report, Department of Treasury and Finance, 2005;

6. Điều tra lao động việc làm hàng năm, Tổng cục Thống kê, 2007-2015.

==========================================

 

 

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: ThS. Nguyễn Thị Minh Hiền
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202