Phân tích và Dự báo > Báo cáo khác

Ứng dụng mô hình phân tích và dự báo trung và dài hạn mô phỏng tác động tác động của điều chỉnh tỷ giá 2015

Cập nhật lúc: 20/12/2016 12:00:00 AM

Mô hình phân tích và dự báo trung và dài hạn Vanmieu là mô hình kinh tế lượng vĩ mô có cấu trúc, được xây dựng lần đầu năm 2012, dưới sự trợ giúp của giáo sư GS. John Fitz Gerald, Viện Nghiên cứu kinh tế và xã hội (ESRI), trong khuôn khổ hợp tác và nghiên cứu hỗ hợp giữa Trung tâm thông tin và dự báo Kinh tế xã hội quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Việt Nam và Viện Nghiên cứu kinh tế và xã hội, Cộng hòa Ailen. Đây là mô hình dựa trên phiên bản mô hình HERMIN do 2 giáo sư người Ailen GS. John Bradley và GS. John Fitz Gerald xây dựng từ năm 1988 với mục đích nghiên cứu sự phát triển của các nền kinh tế đang đi lên từ mức độ phát triển thấp với sự thiếu hụt về số liệu. Do mô hình khá phù hợp với các đặc điểm của kinh tế Việt Nam và đã được sử dụng bước đầu để đưa ra các kết quả dự báo trong trung hạn. Mô hình được bổ sung và hoàn thiện trong năm 2015 với Mô hình Vanmieu_v2.2 gồm 155 biến số trong đó 51 biến ngoại sinh, 104 biến nội sinh, gồm 104 phương trình: 68 phương trình định nghĩa và 34 phương trình hành vi, gồm 02 hệ phương trình hàm CES và chia làm 4 khối: Khối cung, Khối cầu, Khối thu nhập và khối giá cả. Số liệu được sử dụng từ 1995-2013.

Có thể thấy, kinh tế Trung Quốc khó khăn: Chỉ số sản xuất đang giảm sút (Tháng 7/2015 giảm 5.4% so với cùng kỳ năm trước); Kim ngạch xuất khẩu giảm 8.3% so với cùng kỳ năm trước; Mục tiêu đạt được mức tăng trưởng 7% trong năm 2015 đang gặp khó khăn; Thị trường chứng khoán Trung Quốc đang chao đảo; Nợ khu vực tư nhân (207% GDP); Doanh nghiệp sản xuất trong nước khó khăn; Doanh nghiệp nước ngoài giảm các hoạt động ở Trung Quốc; Trung Quốc phá giá đồng NDT 4.6% (tổng 3 lần 1.9%, 1.6% và 1.1%); Biên độ giao động: (+/-) 2%, … Tất cả những yếu tố này đang gây sức ép đòi hỏi Chính phủ Trung Quốc có những phản ứng điều hành, trong đó buộc kích thích tăng trưởng và thực thi chính sách nới lỏng tiền tệ. Động thái phá giá NĐT chính là động thái trong chuỗi điều hành này.

Việc phá giá đồng NDT được kỳ vọng sẽ giúp Trung Quốc hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước xuất khẩu, kích thích xuất khẩu, tăng trưởng và thu hút đầu tư, đón xu hướng (làn sóng) nới lỏng chính sách tiền tệ của các nước trên thế giới. Với hàm ý sâu hơn, Trung Quốc phá giá làm giảm giá năng lượng (giá dầu giảm), điều này có lợi cho sản xuất của Trung Quốc. Tác động gây sức ép đến kinh tế Mỹ (thị trường chứng khoán) và một số nền kinh tế mạnh khác (Nhật, Hàn Quốc, Nga… ). Trong đó, Nga cũng bị ảnh hưởng tiêu cực hơn do khó khăn nền kinh tế trong nước và do giá dầu giảm. Phá giá đồng NDT được kỳ vọng sẽ thu hút được khoản đầu tư vào thị trường chứng khoán Trung Quốc và hỗ trợ cho một số chính sách quan trọng của Trung Quốc trong quá trình tái cơ cấu kinh tế (thay vì định hướng thị trường nội địa, Trung Quốc đang dần hướng ra thị trường thế giới).

Từ thời điểm tháng 5/2015, Trung Quốc đã vượt Mỹ trở thành nước nhập khẩu dầu thô lớn nhất thế giới, trở thành nhà nhập khẩu dầu thô lớn nhất thế giới sẽ cho phép Trung Quốc có quyền định giá mua nhiều hơn, khi Bắc Kinh sẽ trở thành một nhà mua dầu mỏ quan trọng của các nước khu vực Trung Đông. Việc nhu cầu tiêu thụ của Trung Quốc tăng mạnh được coi là một nhân tố chủ chốt khiến giá dầu mỏ tăng cao trong những năm gần đây. Do đó, việc phá giá đồng NDT cho thấy dấu hiệu nền kinh tế Trung Quốc đang gặp khó khăn, giá dầu mỏ sẽ bị ảnh hưởng. Sau động thái của Trung Quốc, giá dầu thế giới đã bắt đầu xu hướng giảm xuống 42 đô/thùng, thấp nhất trong vòng 6 năm qua.

Khi Trung Quốc chưa phá giá đồng NĐT, Việt Nam đã thực hiện phá giá tiền Việt 2 lần vào tháng 7/1 và tháng 7/5/2015 mỗi lần 1%. Khi Trung Quốc thực hiện phá giá, Việt Nam tiếp tục nới biên độ 1% ngày 12/8/2015, sau đó tăng tỷ giá 1% và nới biên độ thêm 3% ngày 19/8/2015.

Như vậy, Việt Nam đã thực hiện phá giá 3% và nới biên độ thêm 3% từ đầu năm 2015 đến nay. Tỷ giá bình quân liên ngân hàng[1] cũng đã tăng 3% từ 21.246 VNĐ lên 21.890 VNĐ trên 1 USD.

Ứng dụng mô hình phân tích và dự báo trung hạn Vanmieu v2.2 thực hiện mô phỏng tác động từ việc điều chỉnh tỷ giá với các kịch bản như sau:

Kịch bản 1: Việt Nam không phá và Trung Quốc phá giá 3,07% (thay đổi % so với kịch bản cơ sở). Kịch bản bày cho thấy GDP Việt Nam giảm (-) 0,41% vào năm 2015 và đến năm 2020 sẽ giảm (-)0,27%. Các chỉ tiêu khác như lao động nền kinh tế, xuất nhập khẩu, tiêu dùng và giá cả nền kinh tế đều giảm.

Kịch bản 2: Việt Nam thực hiện phá giá 1% và Trung Quốc phá giá 3.07% (thay đổi % so với kịch bản cơ sở). Với việc thực hiện chính sách tỷ giá theo kịch bản này cho thấy tăng trưởng Việt Nam 2015 tăng thêm 0,16%, nhưng các năm sau đó tăng trưởng bị tác động tiêu cực, làm giảm tăng trưởng và điều này cũng xảy ra tương tự cho các chỉ tiêu khác của nền kinh tế. Với kịch bản này, lạm phát có thể tăng nhẹ trong năm 2015 nhưng các năm sau đó không bị ảnh hưởng nhiều.

 Kịch bản 3: Việt Nam thực hiện phá giá 2% và Trung Quốc phá giá 3,07% (thay đổi % so với kịch bản cơ sở). Với việc thực hiện chính sách tỷ giá theo kịch bản này cho thấy tăng trưởng Việt Nam 2015 tăng thêm ở mức cao nhất trong 3 kịch bản 0,22%, nhưng các năm sau đó tăng trưởng bị tác động tiêu cực, làm giảm tăng trưởng và điều này cũng xảy ra tương tự cho các chỉ tiêu khác của nền kinh tế. Với kịch bản này, lạm phát có thể tăng nhẹ trong năm 2015 và giữ xu hướng tăng trong các năm tiếp theo.

Với việc thực hiện chính sách tỷ giá theo kịch bản này cho thấy tăng trưởng Việt Nam 2015 tăng thêm 0,16% nhưng các năm sau đó tăng trưởng bị ảnh hưởng mạnh và điều này cũng xảy ra tương tự cho các chỉ tiêu khác của nền kinh tế. Kịch bản này sẽ xấu hơn cho nền kinh tế Việt Nam trong trung và dài hạn. Với kịch bản này, lạm phát tăng trong năm 2015 và có xu hướng tăng trong các năm sau đó.

Việc thực hiện phá giá VNĐ là cần thiết nhằm tránh ảnh hưởng tiêu cực đối với sản xuất trong nước và tránh việc kinh tế có thể rơi vào tình trạng giảm phát sâu hơn. Tuy phá giá tiền VNĐ có thể có lợi trong ngắn hạn (năm 2015), nhưng sẽ không có lợi nếu tính đến các yếu tố dài hạn cho giai đoạn 2016-2020. Điều này có giải thích so việc tăng giá đồng Việt Nam nằm trong tương quan với việc Trung Quốc phá giá. Khi giảm giá VNĐ, năng lực cạnh tranh nhất thời có thể được cải thiện (do phá giá) nhưng là tăng ảo chứ thực chất thì phải từ nội lực của chính nền kinh tế mới có thể bền vững./.

Tài liệu tham khảo:

Kết quả nghiên cứu từ đề tài khoa học cấp Bộ - Đánh giá tác động một số chính sách cung – cầu thông qua mô hình phân tích và dự báo trung và dài hạn, 2016.


[1] www.sbv.gov.vn

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Hoàng Hà (Ban Phân tích và dự báo)
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202