Phân tích và Dự báo > Báo cáo khác

Ứng dụng mô hình phân tích và dự báo trung và dài hạn mô phỏng tác động chính sách lãi suất năm 2012

Cập nhật lúc: 21/12/2016 12:00:00 AM

Mô hình phân tích và dự báo trung và dài hạn Vanmieu là mô hình kinh tế lượng vĩ mô có cấu trúc, được xây dựng lần đầu năm 2012, dưới sự trợ giúp của giáo sư GS. John Fitz Gerald, Viện Nghiên cứu kinh tế và xã hội (ESRI), trong khuôn khổ hợp tác và nghiên cứu hỗ hợp giữa Trung tâm thông tin và dự báo Kinh tế xã hội quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Việt Nam và Viện Nghiên cứu kinh tế và xã hội, Cộng hòa Ailen. Đây là mô hình dựa trên phiên bản mô hình HERMIN do 2 giáo sư người Ailen GS. John Bradley và GS. John Fitz Gerald xây dựng từ năm 1988 với mục đích nghiên cứu sự phát triển của các nền kinh tế đang đi lên từ mức độ phát triển thấp với sự thiếu hụt về số liệu. Do mô hình khá phù hợp với các đặc điểm của kinh tế Việt Nam và đã được sử dụng bước đầu để đưa ra các kết quả dự báo trong trung hạn. Mô hình được bổ sung và hoàn thiện trong năm 2015 với Mô hình Vanmieu_v2.2 gồm 155 biến số trong đó 51 biến ngoại sinh, 104 biến nội sinh, gồm 104 phương trình: 68 phương trình định nghĩa và 34 phương trình hành vi, gồm 02 hệ phương trình hàm CES và chia làm 4 khối: Khối cung, Khối cầu, Khối thu nhập và khối giá cả.  Số liệu được sử dụng từ 1995-2013.

Đầu năm 2011, trước nguy cơ lạm phát cao trở lại, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội. Từ kết quả về kinh tế vĩ mô dễ nhận thấy có sự lên xuống không đồng hướng của các chỉ số. Tuy nhiên, có thể đánh giá mức độ tiêu cực tổng quát hơn rõ rệt của năm 2012 so với các năm trước đó và nền kinh tế đã bộc lộ rõ nhất của xu hướng chung này là sự sụt giảm mạnh tốc độ tăng trưởng GDP trong khi lạm phát tăng vọt trong năm 2011.

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã có nhiều giải pháp mạnh mẽ, quyết liệt để giảm mặt bằng lãi suất nhằm hỗ trợ sản xuất phát triển, góp phần chống suy giảm kinh tế, khống chế tốc độ tăng trưởng dư nợ và dư nợ cho vay đối với lĩnh vực phi sản xuất trong năm 2011 lần lượt là 20% và 16%.

Về điều hành lãi suất huy động, NHNN đã ban hành Thông tư số 02/TT-NHNN ngày 03/3/2011 quy định trần lãi suất huy động VND của các TCTD là 14%. Từ tháng 9/2011 đến tháng 6/2013, NHNN đã 8 lần điều chỉnh giảm trần lãi suất huy động tiền gửi VND. Qua các đợt điều chỉnh, lãi suất huy động VND có kỳ hạn dưới 1 tháng đã giảm từ 6%/năm xuống 1,25%/năm, kỳ hạn từ 1 đến dưới 12 tháng giảm từ 14%/năm xuống còn 7%/năm. Đối với tiền gửi ngoại tệ, từ tháng 4/2011 đến nay, NHNN đã 3 lần điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi USD, đưa lãi suất tiền gửi USD của tổ chức và cá nhân xuống còn 0,25%/năm và 1%/năm.

Cùng với nỗ lực giảm lãi suất huy động, NHNN đã triển khai nhiều biện pháp để giảm mặt bằng lãi suất cho vay, đặc biệt là đối với 5 lĩnh vực ưu tiên. Riêng trong thời gian từ tháng 6/2012 đến 6/2013, NHNN đã 5 lần điều chỉnh giảm trần lãi suất đối với lĩnh vực, ngành nghề sản xuất ưu tiên. Hiện nay, lãi suất cho vay đối với những lĩnh vực này dao động trong khoảng 9%/năm từ mức cho vay 13%/năm trước đây.

Với mức độ và tần suất điều chỉnh giảm lãi suất như trên, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay đã giảm đáng kể, gây tác động tích cực cho nền kinh tế, cụ thể là: (i) Mặt bằng lãi suất cho vay đối với nền kinh tế giảm nhanh, từ 18,2% năm 2011 xuống 15,4% năm 2012 và 10,5% trong 6 tháng đầu năm 2013; (ii) Đẩy lùi tình trạng đô la hóa nền kinh tế, tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ trên tổng phương tiện thanh toán giảm từ 18% cuối năm từ cuối năm 2011 xuống còn 12% năm 2012, tỷ giá được duy trì ổn định từ năm 2011, dự trữ ngoại hối nhà nước đã được cải thiện đáng kể; (iii) Nhờ giám sát và xử lý cương quyết những trường hợp vi phạm trần lãi suất huy động, đồng thời với các biện pháp hỗ trợ thanh khoản cho các NHTM yếu kém, tình trạng một số NHTM phải vay mượn lẫn nhau với lãi suất rất cao trên thị trường liên ngân hàng đã được khắc phục; (iv) Giảm nhanh lãi suất cho vay, giúp doanh nghiệp tiết giảm chi phí sản xuất, đồng thời ngăn chặn được nguy cơ tái lạm phát. Lạm phát đã giảm từ 18,6% vào năm 2011 xuống còn 6,8% trong năm 2012 và dự kiến chỉ còn 6,5% trong năm nay. Kết quả chống lạm phát của Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, củng cố lòng tin của các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Thực tế điều hành chính sách lãi suất của NHNN giảm 2,5%. Kịch bản cơ sở là kịch bản mà NHNN đã thực hiện chính sách tăng lãi suất. Nhóm nghiên cứu thực hiện sốc trong mô hình theo ba kịch bản tương ứng nếu NHNN giữ nguyên lãi suất không giảm, giảm lãi suất 1% và giảm 4%.

Trường hợp thứ nhất lãi suất được giữ nguyên mà không giảm như NHNN đã thực hiện thì có thể thấy được tăng trưởng giảm thấp hơn so với thực tế khoảng 0,63%, tiêu dùng giảm 2,87%, Giảm phát GDP giảm 2,22 điểm %, xuất khẩu và nhập khẩu giảm tương ứng 0,24% và 3,22%.

Tương tự như trường hợp thứ hai, NHNN chỉ giảm 1% lãi suất cũng sẽ có đóng góp tích cực hơn vào tăng trưởng kinh tế. Khi đó, GDP chỉ giảm so với thực tế là 0,38%. Tiêu dùng giảm 1,36%, giảm phát GDP chỉ giảm 0,14%. Tuy nhiên, NHNN thực hiện chính sách này thì mức tăng trưởng tăng thêm không cao và mức lạm phát trong nền kinh tế có thể tăng cao hơn so với việc không điều chỉnh lãi suất.

Trường hợp thứ ba, NHNN thực hiện quyết liệt hơn đối với chính sách lãi suất, nghĩa là lãi suất của NNHH giảm mạnh hơn chính sách giảm lãi suất của năm 2012 (trong trường hợp này, nhóm tác giả giả định ở mức giảm 4%) thì nền kinh tế sẽ tích cực hơn so với kịch bản chính sách về lãi suất mà NHNN đã thực hiện. Cụ thể, với kịch bản này, tăng trưởng có thể tăng thêm 0,41% và các chỉ tiêu khác đều tăng so với thực tế như tiêu dùng tăng 1,48%, nhập khẩu tăng 1,9%, nhưng giảm phát GDP cũng tăng lên 0,15%.

Như vậy, có thể thấy, chính sách giảm lãi suất năm 2012 là khá phù hợp khi đóng góp vào tăng trưởng GDP nhưng vẫn có nguy cơ lạm phát. Tại thời điểm này, do vẫn có nguy cơ lạm phát nên việc thực hiện chính sách lãi suất ở mức vừa phải, nếu thực hiện quyết liệt hơn thì kết quả thu được có thể sẽ khả quan hơn./.

Tài liệu tham khảo:

Kết quả nghiên cứu từ đề tài khoa học cấp Bộ - Đánh giá tác động một số chính sách cung – cầu thông qua mô hình phân tích và dự báo trung và dài hạn, 2016.

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Hoàng Hà (Ban Phân tích và dự báo)
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202