Phân tích và Dự báo > Báo cáo khác

Ứng dụng mô hình phân tích và dự báo trung và dài hạn mô phỏng tác động chính sách thắt chặt tiền tệ theo Nghị quyết 11 năm 2011

Cập nhật lúc: 20/12/2016 12:00:00 AM

Mô hình phân tích và dự báo trung và dài hạn Vanmieu là mô hình kinh tế lượng vĩ mô có cấu trúc, được xây dựng lần đầu năm 2012, dưới sự trợ giúp của giáo sư GS. John Fitz Gerald, Viện Nghiên cứu kinh tế và xã hội (ESRI), trong khuôn khổ hợp tác và nghiên cứu hỗ hợp giữa Trung tâm thông tin và dự báo Kinh tế xã hội quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Việt Nam và Viện Nghiên cứu kinh tế và xã hội, Cộng hòa Ailen. Đây là mô hình dựa trên phiên bản mô hình HERMIN do 2 giáo sư người Ailen GS. John Bradley và GS. John Fitz Gerald xây dựng từ năm 1988 với mục đích nghiên cứu sự phát triển của các nền kinh tế đang đi lên từ mức độ phát triển thấp với sự thiếu hụt về số liệu. Do mô hình khá phù hợp với các đặc điểm của kinh tế Việt Nam và đã được sử dụng bước đầu để đưa ra các kết quả dự báo trong trung hạn. Mô hình được bổ sung và hoàn thiện trong năm 2015 với Mô hình Vanmieu_v2.2 gồm 155 biến số trong đó 51 biến ngoại sinh, 104 biến nội sinh, gồm 104 phương trình: 68 phương trình định nghĩa và 34 phương trình hành vi, gồm 02 hệ phương trình hàm CES và chia làm 4 khối: Khối cung, Khối cầu, Khối thu nhập và khối giá cả.  Số liệu được sử dụng từ 1995-2013.

Cùng với sự phục hồi của kinh tế thế giới sau khủng hoảng tài chính, kinh tế Việt Nam năm 2010 cũng đạt được những bước phát triển mạnh mẽ. Tuy vậy, những yếu kém nội tại của nền kinh tế vẫn chưa được cải thiện nhiều, phản ứng chính sách trong công tác chỉ đạo điều hành chưa thực sự đồng bộ trong khi dư địa chính sách ngày càng thu hẹp. Đây là những nguyên nhân quan trọng gây ra những bất ổn kinh tế trong những tháng đầu năm 2011 khi đà phục hồi của kinh tế thế giới suy giảm, giá thế giới tăng cao và biến động bất thường, khủng hoảng nợ công có xu hướng lan rộng. Kinh tế Việt Nam những tháng đầu năm 2011 cũng trở nên mất ổn định, giá cả tăng vọt, lạm phát và lãi suất ở mức cao gây khó khăn cho khối sản xuất và đời sống người dân, đe dọa đến phát triển bền vững.

Trong bối cảnh này, lạm phát có xu hướng thay đổi khác biệt so với các năm trước đó, cụ thể là CPI tăng dần từ cuối năm 2010, vượt qua các mức đỉnh vào các tháng Tết và tiếp tục đi lên thay vì đà giảm như các năm trước. Ngay cả trong năm 2008, năm chịu tác động của khủng hoảng tài chính thì lạm phát vẫn không thoát khỏi quy luật này mặc dù có mức tăng vượt trội. Đến tháng 6/2011, CPI đã tăng tới 13,29% so với tháng 12/2010, gần gấp đôi con số kế hoạch của Quốc hội đầu năm là 7%. Chính phủ đã phải chấp nhận nới mục tiêu lạm phát lên không quá 17%.  

Tốc độ trượt giá bình quân 6 tháng năm 2011 so với năm 2010 đã tăng lên hai con số, ở mức 16,03% và có xu hướng ngày càng cao. Xem xét tốc độ trượt giá từ năm 2006 trở lại đây, CPI 6 tháng đầu năm nay chỉ còn kém năm 2008 (tăng tới 20,34% do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới).

Nguyên nhân giá cả tăng cao ngoại trừ việc giá đầu vào và lương thực thực phẩm tăng mạnh, còn là hậu quả của việc điều hành chính sách của Chính phủ. Cuối năm 2010, khi thấy có dấu hiệu lạm phát giảm, NHNN đã nới lỏng tiền tệ quá sớm. Nửa đầu năm 2010, tăng trưởng tín dụng chỉ dừng ở mức 10% nhưng cuối năm đã tăng vọt lên 31%. Mặc dù động thái điều hành chính sách tiền tệ của NHNN năm 2010 cơ bản là thắt chặt nhưng tài khóa không ngừng mở rộng với mức tăng kép khá cao của chi thường xuyên và đầu tư phát triển. NHNN tăng cung tiền và tín dụng nhanh chóng để làm giảm lãi suất VND, nhưng tác dụng thực tế lại trái ngược vì tăng tiền lại làm tăng kỳ vọng lạm phát cũng như gây thêm áp lực lên tỷ giá trên thị trường tự do. Độ trễ của việc nới lỏng này được thể hiện ở những tháng đầu năm 2011. Thêm vào đó là việc điều chỉnh tỷ giá chính thức tiền đồng so với USD tăng lên 9,3% vào tháng 2/2011, mức tăng cao nhất từ trước đến thời điểm này dẫn đến gây áp lực lạm phát chi phí đẩy. Người dân chuyển sang đầu cơ, tích trữ USD với kỳ vọng lạm phát còn tăng cao tạo ra sự khan hiếm giả tạo. Trước tình hình này, vào tháng 2/2011, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 11/NQ-CP nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội.

Kế hoạch cắt giảm đầu tư công cụ thể như sau: Tổng vốn đầu tư cắt giảm là 96 nghìn tỷ đồng (tương đương khoảng 10% tổng vốn đầu tư toàn xã hội) trong đó bao gồm 50 nghìn tỷ đồng cắt giảm từ các nguồn không kéo dài thời gian giải ngân, không ứng trước vốn, giảm 32% vốn trái phiếu chính phủ và 10% tín dụng đầu tư của Nhà nước; 46 nghìn tỷ đồng còn lại bao gồm: 5 nghìn tỷ đồng từ ngân sách nhà nước, 2,5 nghìn tỷ đồng vốn trái phiếu chính phủ và 39 nghìn tỷ đồng vốn đầu tư các tập đoàn kinh tế nhà nước.

Mô phỏng chính sách trong mô hình gồm kịch bản sau:

Kịch bản 1: Giả thuyết rằng nếu không thực hiện cắt giảm đầu tư công trong năm 2011. Theo đó, mức đầu tư công trong kịch bản này sẽ tăng thêm 4,2% so với tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Đây là mức vốn đầu tư dự kiến sẽ cắt giảm đầu tư vào các doanh nghiệp nhà nước trong năm 2011 (tương đương 39 nghìn tỷ đồng). Về mặt lý thuyết, việc tăng vốn đầu tư công sẽ kích thích đầu tư của các lĩnh vực khác, đồng thời tăng trưởng tích cực hơn, do đó kỳ vọng rằng GDP sẽ có mức cao hơn, cùng với đó là lạm phát cao hơn.

Kịch bản 2: Giả thuyết rằng không thực hiện cắt giảm đầu tư công, mà giảm chi tiêu chính phủ một lượng tương dương để xem xét mức độ tác động đến tăng trưởng và lạm phát so với kịch bản 1.

Kết quả mô phỏng cho thấy nếu như không cắt giảm đầu tư công, tăng trưởng sẽ tăng 0,22 % so với tăng trưởng thực tế. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong năm 2011 tăng mạnh. Dòng vốn tăng dẫn đến những tác động tích cực đến sản xuất và tiêu dùng trong năm này; xuất khẩu tăng lên 0,02% và tiêu dùng tăng 1,1%. Tuy nhiên, nếu không cắt giảm đầu tư công mức lạm phát năm 2011 cũng lại tăng hơn 1 điểm % so với thực tế. Như vậy, việc thực hiện chính sách cắt giảm đầu tư công tuy làm giảm tăng trưởng GDP nhưng với mục tiêu kiềm chế lạm phát năm 2011, việc thực hiện cắt giảm đầu tư vừa giúp khống chế được lạm phát, vừa giúp tạo ra cơ sở phát triển cho 2 năm 2012-2013 tiếp theo.

Kết quả mô phỏng từ kịch bản 2, nếu thực hiện cắt giảm chi tiêu công một lượng tương ứng như đối với đầu tư công, kết quả từ mô hình cho thấy, tăng trưởng GDP giảm tuy như lượng ít hơn so với việc cắt giảm đầu tư công tương ứng, nhưng lạm phát cũng được khống chế ở mức độ thấp hơn. Nhìn về trung hạn, cắt giảm tiêu dùng làm tăng trưởng các năm sau đó có xu hướng giảm trong khi lạm phát có xu hướng tăng trở lại./.

Tài liệu tham khảo:

Kết quả nghiên cứu từ đề tài khoa học cấp Bộ - Đánh giá tác động một số chính sách cung – cầu thông qua mô hình phân tích và dự báo trung và dài hạn, 2016.

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Hoàng Hà (Ban Phân tích và dự báo)
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202