Phân tích và Dự báo > Báo cáo năm

Những nét nổi bật kinh tế tháng 11 và 11 tháng năm 2016

Cập nhật lúc: 27/12/2016 11:07:00 AM

Tình hình KT-XH năm 2016 gặp nhiều khó khăn, khi khu vực nông nghiệp vẫn tiếp tục đà tăng trưởng âm trong khi chỉ số sản xuất công nghiệp đang sụt giảm mạnh; thâm hụt ngân sách, nợ công tăng nhanh đang ảnh hưởng lớn đến tăng trưởng kinh tế nói chung và tạo rủi ro về ổn định kinh tế vĩ mô. Trong khi đó, nhiều tổ chức quốc tế (như Ngân hàng Thế giới) đã điều chỉnh giảm tốc độ tăng trưởng GDP Việt Nam năm 2016 so với dự báo trước đó. Những phát sinh liên quan đến vấn đề xả thải, ô nhiễm môi trường ở khu vực Miền Trung hay diễn biến phức tạp của khí hậu nhiều khả năng sẽ tiếp tục ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế.

Tại Nghị quyết phiên họp thường kỳ tháng 6, Chính phủ vẫn thể hiện quyết tâm đạt được các chỉ tiêu đặt ra từ đầu năm với những trọng tâm điều hành trong những tháng cuối năm 2016 là: chủ động điều hành chính sách tiền tệ nhằm góp phần kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng; theo dõi chặt chẽ diễn biến thị trường tài chính để tăng cường các biện pháp bảo đảm an ninh tài chính quốc gia, an toàn nợ công; đẩy nhanh tiến độ giải ngân nguồn vốn xây dựng cơ bản; theo dõi chặt chẽ diễn biến giá dầu, tháo gỡ khó khăn cho xuất khẩu.

Diễn biến thực hiện tác động lĩnh vực điều hành cụ thể như sau:                            

a. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản và sản xuất công nghiệp công nghiệp gặp khó khăn

Về sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng trực tiếp từ các cơn bão số 2 và số 3 đến Miền Bắc đã gây ra những thiệt hại năng nề và những ảnh hưởng mạnh tới sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản.

Về sản xuất công nghiệp: có cải thiện nhưng mức tăng đã chậm lại hơn nhiều so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 11 ước tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước thấp hơn con số 8.9% của năm 2015. Tính chung 11 tháng năm nay, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 7,3% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn nhiều mức tăng 10% của cùng kỳ năm 2015.  Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2016 giảm chủ yếu là do chỉ số sản xuất của ngành khai khoáng, liên tục giảm từ đầu năm 2016 tới nay.

b. Thị trường tài chính ổn định

 Tín dụng tăng trưởng khá, mặt bằng lãi suất ổn định và thị trường ngoại hối không có nhiều biến động. Tín dụng trung và dài hạn tăng và cao hơn tín dụng chung của nền kinh tế là một trong những yếu tố quan trọng hỗ trợ cho tăng trưởng những tháng cuối năm, nỗ lực đẩy vốn ra nền kinh tế của hệ thống ngân hàng trong những tháng đầu năm tiếp tục được duy trì trong tháng 11. Việc ban hành Thông tư 06/2016/TT-NHNN sửa đổi quy định các giới hạn tỷ lệ an toàn trong hoạt động tổ chức tín dụng, trong đó điều chỉnh tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn giảm dần theo lộ trình nhằm hạn chế rủi ro thanh khoản, đã góp phần hỗ trợ ổn định và giảm áp lực lên mặt bằng lãi suất từ nay đến cuối năm. Thị trường ngoại hối tương đối ổn định, mặc dù có một vài thời điểm có diễn biến bất thường song không kéo dài. Việc cán cân thanh toán quốc tế thặng dư và tỷ giá liên ngân hàng giảm nhẹ so với đầu năm đã góp phần giảm áp lực lên tỷ giá trong các tháng cuối năm.

c. Tiêu dùng tiếp tục xu hướng tăng nhẹ

Ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tháng 11 đạt 302,9 nghìn tỷ đồng, ước tăng 1,9% so với tháng trước. Mua sắm hàng hóa trong tháng 11 được thúc đẩy bởi hàng loạt các hoạt động khuyến mại của các doanh nghiệp bán lẻ lớn nhằm thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa cuối năm, nhiều doanh nghiệp bán lẻ giảm giá tới 50% đối với hàng ngàn nhu yếu phẩm như BigC, Co.opmart… Người dân cũng có xu hướng chi tiêu nhiều vào các hàng hóa lâu bền vào dịp cuối năm. 

Như vậy tính chung 11 tháng, tổng bức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tăng 10,4% so với cùng kỳ năm trước, khá thấp so với mức 8,3% của năm 2015. Nguyên nhân là do động lực kích cầu tiêu dùng như sự ổn định của giá cả, tăng trưởng kinh tế cao không còn mạnh mẽ như năm trước. Thay vào đó là tác động tiêu cực từ sự tăng giá trở lại của nhiều mặt hàng và dịch vụ thiết yếu đến tâm lý tiêu dùng của người dân khiến sức mua ì lại. Tuy vậy, mức tăng trưởng này vẫn là tương đối cao so với các năm từ năm 2014 trở về trước.

  1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) ổn định

Tình hình thị trường giá cả ổn định, đặc biệt là giá cả các mặt hàng nhiên liệu phục vụ cho sản xuất giúp giảm áp lực tăng chi phí đầu vào cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp ổn định sản xuất kinh doanh. Giá dầu thô trên thị trường quốc tế giảm mạnh sau chiến thắng của ông Donald Trump. Theo thống kê, giá dầu Brent WTI  ngày 10/11/2016 giảm hơn 10 USD/thùng so với lần điều chỉnh trước bầu cử. Điều này cũng đã được nhiều chuyên gia quốc tế và trong nước dự đoán từ trước. Động thái này đã tác động tới thị trường xăng dầu trong nước, trước hết là phiên điều chỉnh giá ngày 19/11 sau đợt tăng giá đầu tháng vào ngày 4/11/2016. Giá xăng RON 92 giảm 521 đồng/lít; xăng E5 giảm 355 đồng/lít; dầu diesel 0.05S giảm 514 đồng/lít; dầu hỏa giảm 578 đồng/lít và dầu mazut 180CST 3.5S giảm 373 đồng/kg. Tính từ đầu năm đến 20/11/2016, giá xăng đã tăng 11 lần với tổng cộng gần 5.000 đồng/lít. Cũng từ đầu năm đến nay, giá xăng đã 9 lần giảm với tổng cộng cũng gần 5.000 đồng/lít và 2 lần giữ nguyên giá.  Theo Cục Quản lý giá, trong 15 ngày đầu tháng 11/2016, giá một số mặt hàng thiết yếu tại thị trường trong nước có xu hướng ổn định so với cùng kỳ tháng 10/2016 như: thực phẩm tươi sống, phân bón urê, xi măng. Các mặt hàng có giá tăng như:giá thép, giá bán buôn đường, xăng dầu và LPG. Riêng giá thóc gạo biến động không đồng đều, ổn định tại thị trường miền Bắc và tăng giảm tùy từng vùng tại thị trường miền Nam do phụ thuộc vào động thái thu mua của thương lái từng địa phương.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trung bình 3 quí đầu  năm nay tăng cao hơn so với năm trước, nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với các năm 2013 trở về trước; cụ thể  quí I tăng 1,25%,  quí II tăng 2,19%  và quí III tăng 2,77% so với cùng kỳ (năm trước các con số tương ứng là 0,74%; 0,98% và 0,5%). Nguyên nhân chủ yếu là do giá một số nhóm hàng hoá và dịch vụ tăng cao như nhóm giao thông (do giá xăng dầu thế giới tăng), giá dịch vụ y tế, giáo dục (tăng theo lộ trình), giá vật liệu xây dựng,.. Nếu loại trừ một số nhóm hàng do nhà nước quản lý thì lạm phát cơ bản trung bình 3 quí đầu năm thấp hơn so với năm trước (quí II tăng 1,8% , quí III tăng 1,84%, thấp hơn so với con số này năm trước tương ứng là 2,1% và 1,96%). Tính đến hết quí III lạm phát tăng 3,14% so với tháng 12 năm trước.

Sang quí IV, chỉ số CPI  sẽ có xu hướng tăng cao hơn do sự biến động của giá xăng dầu thế giới có xu hướng tăng và việc thực hiện lộ trình tăng giá dịch vụ y tế tại một số địa phương, chỉ số CPI tháng 10 đã tăng 0,83% so với tháng trước, đây là mức tăng cao nhất trong 5 năm gần đây, đầu tháng 11 giá xăng đã được điều chỉnh tăng nhẹ; CPI tháng 11 tăng khoảng 0,48% so với tháng trước, và tính đến hết tháng 11 dự báo CPI  tăng  4,5% so với tháng 12 năm trước, tăng 4,52% so với bình quân cùng kỳ năm 2015.

  1. Tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu giảm sút

Tổng kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu trong 11 tháng ước đạt 316,7 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 159,7  tỷ USD, nhập khẩu đạt  157 tỷ USD. Như vậy, tính chung 11 tháng đầu năm Việt Nam đã xuất siêu 2,7 tỷ USD. Đáng chú ý là tốc độ tăng xuất khẩu và nhập khẩu đều thấp hơn so với cùng kỳ[1]. Sự giảm sút của xuất khẩu chủ yếu là do các ngành hàng dệt may, máy tính và linh kiện, giày dép, thủy sản giảm.

Triển vọng xuất khẩu một số sản phẩm chủ lực chưa khả quan và nhiều khả năng không hoàn thành kế hoạch năm, cho dù đã có sự phục hồi dần về cuối năm.  Tình hình xuất khẩu của nhiều nhóm sản phẩm chủ lực đã có sự cải thiện tích cực, đặc biệt là sản phẩm nông sản. Xuất khẩu điện thoại tiếp tục là điểm sáng cho dù đã xảy ra sự cố thu hồi Galaxy Note 7.

  • Xuất khẩu nông sản: Mặt hàng gạo: Theo số liệu của Tổng cục hải quan, tổng kim ngạch xuất khẩu gạo ước tính đến hết tháng 11/2016 đạt khoảng 2,039 tỷ USD, giảm khoảng 22% so với cùng kỳ năm trước. Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu gạo hàng đầu của Việt Nam. Mặt hàng cà phê: Theo số liệu Tổng cục hải quan, tính đến hết tháng 11/2016, tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam đạt khoảng 2,975 tỷ USD tăng khoảng 39,5% so với cùng kỳ năm trước.
  • Xuất khẩu thủy sản: Theo số liệu Tổng cục Hải quan, tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản tính đến nửa đầu tháng 11/2016 đạt 6,058 tỷ USD, tăng 6,7% so cùng kỳ năm trước. Về thị trường, theo thống kê của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), thị trường có sự tăng trưởng mạnh, đột biến là Trung Quốc và Hồng Kông (37,7%), Nga (130%); thị trường các nước EU và Bắc Mỹ có xu hướng tăng trưởng khá; một số thị trường có xu hướng giảm như Canada (-68,4%), Đức (-11,4%). Theo các nhóm hàng, tôm (5,9%) và cá tra (7%) vẫn là 2 sản phẩm chủ lực với kim ngạch lớn và tốc độ tăng trưởng tốt; cá ngừ tăng trưởng khá (5,4%); nhuyễn thể giảm nhẹ (-2,4%). Sự cố môi trường biển đã tác động tiêu cực đến xuất khẩu của các doanh nghiệp xuất khẩu hải sản miền Trung. Hiện thị trường xuất khẩu và tình trạng thiếu lao động đang là hai khó khăn lớn nhất của các doanh nghiệp xuất khẩu hải sản. Bên cạnh đó, xuất khẩu thủy sản cũng phải đối mặt khó khăn do thiếu nguồn cung . Diện tích nuôi trồng thủy sản đặc biệt là tôm bị ảnh hưởng biến đổi khí hậu và hiện tượng xâm nhập mặn. Theo VASEP dự tính quý IV năm 2016, sản lượng cá nguyên liệu thu hoạch chỉ còn chưa đầy 300 nghìn tấn, khiến các doanh nghiệp cá tra sẽ thiếu nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu. Theo dự báo của VASEP, tổng giá trị xuất khẩu thủy sản năm 2016 của Việt Nam sẽ đạt mục tiêu kế hoạch đề ra khoảng 7 tỷ USD, tăng 5,5% so với năm 2015.
  • Xuất khẩu dệt may: Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, trong nửa đầu tháng 11/2016, tổng kim ngạch xuất khẩu (KNXK) hàng dệt may của Việt Nam đạt 887,9 USD, nâng KNXK mặt hàng này của nước ta trong 11 tháng đầu năm 2016 ước đạt  20,56 tỷ USD, tăng 4,55% so với cùng kỳ 2015. Theo dự báo của VITAS, KNXK hàng dệt may của nước ta trong 2 tháng cuối năm đạt 5.1 tỷ USD, nâng KNXK mặt hàng này của cả năm 2016 đạt 28.5 tỷ, thấp hơn so với mục tiêu 1,5 tỷ USD, hoàn thành 92% kế hoạch XK.
  • Về xuất khẩu điện thoại: Xuất khẩu điện thoại các loại và linh kiện tính nửa đầu tháng 11 năm 2016 đạt 1,523 tỷ USD, tăng 13,16% so cùng kỳ tháng trước. Tính chung 11 tháng, kim ngạch đạt 29,85 tỷ, tăng 10,7% so cùng kỳ năm trước. Như vậy thực tế cho thấy sự cố thu hồi Galaxy Note 7 của Samsung tác động không lớn tới kim ngạch xuất khẩu một phần do sản phẩm này phần lớn tiêu thụ ở thị trường nội địa, một phần do Samsung đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm khác thay thế. Sự cố này cũng có ảnh hưởng gián tiếp tới việc tiêu thụ và xuất khẩu các dòng sản phẩm khác của Samsung. Tuy nhiên, với thế mạnh về kiểu dáng và giá cả cạnh tranh, dự báo mức độ tác động giảm kim ngạch xuất khẩu có nhóm mặt hàng sẽ không nhiều, khả năng chỉ giảm tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu cả năm 2016 giảm khoảng 0,2 điểm phần trăm..
  • Tình hình doanh nghiệp chưa có những cải thiện rõ rệt

Doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng về  số lượng và tăng mạnh về số vốn đăng ký. Tính đến đầu tháng 11 năm 2016, cả nước có thêm 91.765 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 710.618 tỷ đồng, tăng 18,3% về số doanh nghiệp và 46,2% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2015 (So sánh 2015/2014: doanh nghiệp tăng 29,2%; vốn tăng 37,9%). Tỷ trọng vốn đăng ký bình quân trên một doanh nghiệp đạt 7,7 tỷ đồng, tăng 23,5% so với cùng kỳ năm 2015. Thêm vào đó, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động cũng tăng so với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tính đến đầu tháng 11 năm 2016 là 22.486 doanh nghiệp, tăng 38,8% so với cùng kỳ năm trước (So sánh 2015/2014: doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng 24,6%).


[1] Về xuất khẩu: Tính chung 011 tháng đầu năm, tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước đạt 159,7 tỷ USD, tăng 7,64% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, nếu so sánh với cùng kỳ các năm trước, tốc độ tăng trưởng này là khá thấp so với con số tăng trưởng các năm trước đó (18,53% năm 2012; 15,66% năm 2013, 14,08% năm 2014 và 7,99% năm 2015). Về nhập khẩu: Tính chung 11 tháng đầu năm kim ngạch hàng hóa nhập khẩu toàn nền kinh tế ước đạt 157 tỷ USD, tăng 3,42% so với cùng kỳ năm trước. Đây là con số nhập khẩu thấp nhất trong vòng 4 năm trở lại đây. Cụ thể, nhập khẩu 07 tháng các năm 2012, 2013, 2014 và 2015 tăng so với cùng kỳ các năm trước tương ứng 6,71%, 15,39%, 11,79% và 13,25%.

 

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Phân tích và dự báo (Trích B/c tháng 11/2016)
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202