Nghiên cứu > Đề tài khoa học > Đề tài cấp Bộ

Đánh giá tương tác kinh tế các tỉnh thành phố trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

Cập nhật lúc: 12/09/2016 02:00:00 PM

Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Viết Sê

Năm thực hiện: 2011

1. Mục tiêu và phạm vi, phương pháp nghiên cứu của đề tài

Trong khuôn khổ kinh phí và thời gian qui định, đề tài hướng tới kết hợp phân tích định tính và phân tích định lượng một số vấn đề về tương tác về tăng trưởng kinh tế, về phát triển công nghiệp, thương mại, phát huy lợi thế so sánh giữa các tỉnh, thành phố trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, góp phần nhận diện sâu sắc hơn quan hệ kinh tế giữa các địa phương trong vùng.

2. Phương pháp nghiên cứu

Nhóm nghiên cứu đề tài sử dụng phương pháp phân tích thống kê, phương pháp chuyên gia và phương pháp toán để thực hiện đề tài.

3. Ý nghĩa khoa học và triển vọng ứng dụng

Góp phần nhận diện sâu sắc hơn về quan hệ liên kết, tương tác, hợp tác kinh tế giữa các địa phương thông qua các phương pháp phân tích định lượng trong điều kiện số liệu thống kê hiên nay tại các tỉnh thành phố.

4. Kết quả nghiên cứu

4.1. Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận liên quan đến tương tác kinh tế lãnh thổ.

4.2. Đánh giá tương tác kinh tế giữa các tỉnh, thành phố trong VKTTĐPN.

4.2.1. Phát huy lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh nhìn từ chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh ( PCI).

+ Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh( PCI )– phản ánh chất lượng điều hành của chính quyền có liên quan đến phát huy lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh của mỗi địa phương.

 - Các chỉ số: tiếp cận đất đai, phát triển khu vực tư nhân và hỗ trợ doanh nghiệp, chính sách lao động phản ánh việc phát huy lợi thế so sánh về đất đai, vốn, lao động.

- Các chỉ số : chi phí gia nhập thị trường, chi phí thời gian thực hiện các quy định nhà nước, tính minh bạch và tiếp cận thông tin, thiết chế pháp lý phản ánh lợi thế cạnh tranh về tiết kiệm chi phí, giảm thiểu rủi ro chính sách trong sản xuất kinh doanh.

- Bình Dương nổi lên là tỉnh phát triển nhanh nhờ phát huy tốt hơn cả về lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh thông qua đánh giá của doanh nghiệp, khi có tới 6/7 chỉ số có số điểm tổng cộng 4 năm ( 2006 – 2009 ) xếp đầu bảng trong vùng, chỉ có một chỉ số xếp thứ 3 trong 8 tỉnh thành phố trong vùng. Điểm PCI tổng hợp của Bình Dương xếp thứ nhất hoặc thứ hai của cả nước.

- Tiếp theo là TP Hồ Chí Minh, khi có 3/7 chỉ số xếp thứ 1 đến thứ 3trong 8 tỉnh thành phố trong vùng, nhưng TP Hồ Chí Minh chưa thật sự thành công trong việc phát huy lợi thế so sánh về đất đai cũng như không tạo được lợi thế cạnh tranh về tiết kiệm chi phí và giảm thiểu rủi ro chính sách cho các doanh nghiệp.

- Tương phản với Bình Dương là Bình Phước, Tây Ninh cả lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh chưa được phát huy tốt.

4.2.2. Đánh giá tương tác về tăng trưởng GDP giữa các tỉnh thành phố trong vùng thông qua sử dụng ma trận tương quan.

- TP Hồ Chí Minh có hệ số tương quan GDP lớn nhất đối với các tỉnh trong Vùng, khi hệ số tương quan với Đồng Nai, Binh Dương, Tiền giang, Long an, Tây ninh đều đạt trên 0,99, Bình phước 0,98, thấp nhất là Bà rịa-Vũng tàu chỉ đạt 0,75

- Tiếp theo là các tỉnh Tây Ninh, Đồng Nai, Bình Dương, Tiền giang, Long an. Hệ số tương quan GDP giữa các tỉnh chênh lệch nhau không nhiều, trừ Bà Rịa -Vũng tàu.

- Bà Rịa – Vũng Tàu hệ tương quan thấp nhất, dù qui mô GDP chiếm tới 20,27% tổng GDP vùng khi hệ số tương quan GDP giữa Bà rịa – Vũng tàu với các tỉnh thành trong vùng phổ biến từ 0,64-0,74, trong đó hệ số tương tác GDP với Bình Phước là thấp nhất với 0,64, với các tỉnh thành còn lại đạt mức 0,73 đến 0,74, do cơ cấu kinh tế Bà rịa – Vũng tàu nặng về khai thác dầu và khí, ít sử dụng lao động tại chỗ, sản phẩm chủ yếu dành cho xuất khẩu.

4.2.3. Đánh giá tương tác về năng suất lao động bằng ma trận tương quan.

- Phù hợp với sự tương tác về GDP và trình độ phát triển kinh tế, mức độ tương tác về năng suất lao động của kinh tế TP Hồ Chí Minh với năng suất lao động các tỉnh khác trong vùng là lớn nhất, trong đó hệ số tương tác năng suất lao động của TP Hồ Chí Minh với năng suất lao động các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, Tiền giang, Long An, Tây Ninh, Bình Phước đạt 0,96 trở lên, thấp nhất là Bà rịa – Vũng Tàu chỉ đạt 0,3. Tiếp theo là Tây Ninh, Tiền Giang, Đồng Nai, Long An với hệ số tương quan đạt 0,96 trở lên, trừ Bà rịa – Vũng tàu.

- Hệ số tương quan về năng suất lao động của Bà Rịa – Vũng Tàu đối với năng suất lao động tại các tỉnh thành phố trong Vùng thấp nhất,trong đó hệ số tương quan với năng suất lao động TP HCM cũng chỉ đạt 0,30 và thấp nhất là với Bình Dương chỉ đạt 0,06, mặc dù năng suất lao động tuyệt đối của BR-VT vẫn cao nhất.

- Từ hệ số tương quan về năng suất lao động của Bà Rịa – Vũng Tàu và Bình Dương cho thấy khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, có tác động lan tỏa không nhiều tới về công nghệ và kinh nghiệm quản lý của khu vực kinh tế trong nước .

4.2.4. Đánh giá về tương tác không gian GDP và đầu tư:

Sự phát triển của Đồng Nai và Bình Dương là tích cực và cùng chiều trong cả thời kỳ nghiên cứu. Nhưng TP Hồ Chí Minh trong mối tương quan với Đồng Nai, Bình Dương thì ngược chiều cho đến năm 2007- tức là giữa các địa phương này có sự tranh chấp về thu hút đầu tư, đến năm 2008, 2009 không còn tác động ngược chiều. Sự phát triển của Bà Rịa – Vũng Tàu tương đối tách biệt với các tỉnh thành phố trong vùng.

4.2.5. Đánh giá về tương tác không gian GDP và lao động:

- Đồng Nai và Bình Dương vẫn có xu hướng tương tác cùng chiều. TP Hồ Chí Minh từ năm 2007 trở về trước có xu hướng tương tác cùng chiều, nhưng đến năm 2008 và 2009 có sự tương tác ngược chiều với Bình Dương, Đồng Nai, cho thấy tình trạng thiếu hụt lao động, phụ thuộc vào nguồn lao động ngoại tỉnh của Đồng Nai và Bình Dương là vấn đề lớn trong phát triển kinh tế, nên giữa các doanh nghiệp thường xuyên diễn ra tình trạng lôi kéo lao động của nhau.

4.2.6. Đánh giá tương tác về tăng trưởng công nghiệp và năng suất lao động trong công nghiệp

- Công nghiệp Bà Rịa – Vũng Tàu dù có qui mô lớn, nhưng lại có sức tương tác thấp nhất trong vùng, nhất là tương tác với sản xuất công nghiệp các tỉnh Long An, Tiền Giang, Tây Ninh, Bình Phước, khi hệ số tương quan công nghiệp của tỉnh này với các tỉnh thành trong vùng khá thấp.

- Các trung tâm công nghiệp như TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai có sức tương tác lớn nhất do quy mô, cơ cấu công nghiệp quyết định , khi hệ số tương quan thường đạt 0,98 -0,99.

- Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình phước, Tiền Giang có sức tương tác về năng suất lao động trong công nghiệp thấp hơn các tỉnh, thành phố khác trong vùng, nhưng mức độ thấp hơn không nhiều.

4.2.7. Đánh giá tương tác về dịch vụ thương mại và năng suất lao động trong khu vực thương mại dịch vụ.

- Mức độ tương tác về dịch vụ thương mại của Bà Rịa – Vũng Tàu nhỏ hơn các tỉnh, thành phố khác trong vùng; Sự khác biệt về sức tương tác về thương mại dịch vụ giữa các tỉnh, thành phố trong vùng là không lớn.

Khuyến nghị về chính sách

Khuyến nghị về chính sách tăng trưởng kinh tế.

- Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam nói chung, nhất là TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương cần tích cực chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu phù hợp với lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh của vùng.

- Trong chuỗi giá trị chung của Vùng KTTĐPN, TP Hồ Chí Minh cần làm tốt hơn chức năng nghiên cứu phát triển, thiết kế phân phối sản phẩm dịch vụ cho cả vùng, với chức năng sản xuất TP Hồ Chí Minh cần tập trung phát triển các sản phẩm dịch vụ có hàm lượng công nghệ cao, đủ sức tham gia cạnh tranh quốc tế. Xây dựng các chương trình hợp tác liên kết kinh tế thiết thực giữa các tỉnh thành phố trong vùng, không để xảy ra các tác động ngược chiều làm suy giảm năng lực cạnh tranh của tỉnh thành phố và của Vùng.

Khuyến nghị về chính sách đầu tư.

- Việc phân bổ vốn cho các tỉnh thành phố cần thật sự xuất phát từ yêu cầu phát huy lợi thế, nâng cao năng lực canh tranh của địa phương, của Vùng.

- Có qui hoạch và chiến lược thu hút FDI cụ thể, ưu tiên các dự án FDI có tác động nâng cao trình độ công nghệ của nền kinh tế, lôi kéo khu vực kinh tế trong nước tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

Khuyến nghị về chính sách công nghiệp.

- Tập trung phát triển các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, theo khuyến nghị của Bộ Công thương bao gồm: Dầu thô, khí đốt, động cơ các loại, xe máy, ô tô, tàu thủy, thép, lắp ráp ti vi, lắp ráp máy tính, phân đạm, phân lân, chất tẩy rửa, sữa, bia, giấy, thuốc lá, nước giải khát, vải lụa, quần áo may sẵn, giày dép, vật liệu xây dựng, điện thương phẩm.

- Có chính sách phát triển cụm ngành , xây dựng dự án thí điểm hình thành cụm ngành hoặc mạng lưới các nhà cung cấp trong nước, các doanh nghiệp phụ trợ xung quanh hạt nhân là doanh nghiệp nước ngoài hoặc doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn

Khuyến nghị về chính sách quy hoạch:

- Tập trung làm tốt quy hoạch liên kết vùng đối với 6 lĩnh vực cơ bản: xây dựng, giao thông, đất đai, môi trường, điện, k hu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế mở, sản phẩm dịch vụ chủ lực

- Làm tốt quy hoạch công nghiệp hỗ trợ, quy hoạch sử dụng và phát triển nguồn nhân lực./.

 Xem toàn văn báo cáo đề tài tại: Thư viện NCIF

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: BBT
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Số lượt truy cập : 1097202