Nghiên cứu > Đề tài khoa học > Đề tài cấp Bộ

Đánh giá mức độ bổ sung và cạnh tranh giữa Việt Nam với các đối tác thương mại chính bằng phương pháp định lượng

Cập nhật lúc: 09/09/2016 11:00:00 AM

Chủ nhiệm đề tài: TS Lê Quốc Phương

Năm thực hiện: 2011

1. Mục tiêu của Đề tài

Sử dụng phương pháp định lượng đánh giá mức độ bổ sung/cạnh tranh giữa Việt Nam và các đối tác thương mại chính, từ đó đề xuất các kiến nghị thúc đẩy thương mại quốc tế của Việt Nam.

2. Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng chỉ số lợi thế so sánh bộc lộ RCA do Balassa (1965) đề xuất. Cho đến nay chưa có nghiên cứu nào phân tích vấn đề mức độ bổ sung và cạnh tranh của các đối tác thương mại chính đối với Việt Nam. Phương pháp luận đánh giá mức độ bổ sung và cạnh tranh giữa các nền kinh tế sử dụng trong Đề tài này được phát triển và hoàn thiện từ các nghiên cứu mà Chủ nhiệm đã thực hiện trước đây, là Lê Quốc Phương và công sự (1997), Lê Quốc Phương (2002), (2008), (2009) và (2010).

3. Triển vọng áp dụng nghiên cứu

Tính mới, nội dung mới của Đề tài. Đề tài này sử dụng công cụ định lượng để đánh giá mức độ bổ sung và cạnh tranh giữa Việt Nam và các đối tác thương mại chính, là lĩnh vực cho đến nay chưa được thực hiện ở Việt Nam. Ngoài ra, số liệu thống kê thương mại theo tiêu chuẩn SITC được sử dụng để tính toán chỉ số RCA là của năm 2007, là số liệu cập nhật nhất đối với Việt Nam tại thời điểm Đề tài được thực hiện năm.

Hiệu quả kinh tế. Đề tài cho phép thực hiện một công việc khó khăn và phức tạp là đánh giá mức độ bổ sung và cạnh tranh của các nền kinh tế là đối tác thương mại chính của Việt Nam thông qua việc sử dụng nguồn số liệu tương đối phổ cập về xuất khẩu. Điều đó cho phép giảm bớt rất nhiều chi phí và công sức.

Hiệu quả xã hội. Đề tài cho phép đánh giá tính chất bổ sung hoặc cạnh tranh giữa nền nền kinh tế nước ta với các đối tác thương mại chủ yếu, giúp các cơ quan Chính phủ có thêm luận cứ khoa học để ra quyết định trong hoạch định chính sách hội nhập kinh tế quốc tế.

4. Cấu trúc của Đề tài

Đề tài có 3 chương nội dung chính:

Chương I. Phương pháp luận đánh giá mức độ bổ sung/cạnh tranh giữa các nền kinh tế

Chương II. Đánh giá mức độ bổ sung/cạnh tranh giữa Việt Nam với các đối tác chính.

Chương III. Kết luận và gợi ý chính sách

5. Kết quả nghiên cứu của Đề tài

- Cơ cấu lợi thế so sánh của các đối tác thương mại chính của Việt Nam

a) Các nước ASEAN

Xingapo là nền kinh tế có trình độ phát triển cao nhất trong khối ASEAN. Chỉ số RCA cho thấy lợi thế so sánh của Xingapo dựa trên các ngành công nghiệp sử dụng nhiều vốn và công nghệ. Đó là các cụm sản phẩm: nhiên liệu (RCA=1,1), hoá chất (RCA=1,1), máy móc/thiết bị vận tải (RCA=1,5). Với dân số ít (5 triệu người năm 2009) và hầu như không có tài nguyên thiên nhiên, Xingapo không có lợi thế so sánh trong các ngành sử dụng nhiều lao động (Cụm 8) và các ngành dựa trên khai thác tài nguyên và cung cấp nguyên liệu thô (Cụm 0, 2, 4).Đáng lưu ý là trong cơ cấu lợi thế so sánh của Xingapo có 1 cụm sản phẩm cùng lợi thế so sánh so với Việt Nam là Cụm 3 (nhiên liệu). Song thực ra sự trùng hợp này chỉ là do SITC 1 chữ số là mức phân loại rất thô nên Cụm 3 bao gồm cả dầu thô (là sản phẩm Việt Nam có lợi thế so sánh) và các sản phẩm lọc dầu (là các sản phẩm mà Xingapo có lợi thế so sánh). Do đó, tuy 2 nước có vẻ cùng có lợi thế so sánh đối với Cụm 3, song thực tế là 2 nước không có nhóm sản phẩm nào có cùng lợi thế so sánh nếu xét ở mức SITC chi tiết hơn (3 chữ số trở lên). Như vậy xét ở mức tổng quát SITC 1 chữ số thì cơ cấu lợi thế so sánh của Xingapo và Việt Nam khác biệt nhau, do vậy 2 nền kinh tế có tính bổ sung cao.

Malaysia được xem là nền kinh tế có trình độ phát triển cao thứ hai trong khối ASEAN chỉ sau Xingapo. Đồng thời, Malaysia cũng là nước có nền nông nghiệp tương đối phát triển do có điều kiện khá thuận lợi về khí hậu, đất đai thổ nhưỡng, và cũng là nước có tài nguyên thiên nhiên (đặc biệt là dầu thô). Chỉ số RCA cho thấy cơ cấu lợi thế so sánh của Malaysia dựa trên 3 cụm sản phẩm chính là: Nhiên liệu (RCA=1,1) do Malaysia là nước khai thác và xuất khẩu dầu thô khá lớn, Dầu mỡ động thực vật (RCA=14,1) do có ngành công nghiệp dầu cọ lớn, Máy móc/thiết bị vận tải (RCA=1,3).

Trong số các cụm sản phẩm mà Malaysia có lợi thế so sánh, có 1 cụm sản phẩm cùng lợi thế so sánh với Việt Nam là nhiên liệu (Cụm 3). Điều này phản ánh thực tế là cả Malaysia và Việt Nam đều là các nước khai thác và xuất khẩu dầu thô lớn trong khu vực Đông Nam Á.

Thái Lan là nước có nền nông nghiệp lớn đồng thời có nền công nghiệp phát triển ở mức trung bình trong khu vực. Chỉ số RCA cho thấy lợi thế so sánh của Thái Lan khá đa dạng, dựa trên cả các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp sử dụng nhiều lao động và công nghiệp sử dụng nhiều vốn và công nghệ.

Do có nhiều điểm khá tương đồng giữa nền kinh tế Thái Lan và Việt Nam, nên 2 nước có chung 3 cụm sản phẩm cùng lợi thế so sánh là Cụm 0 (thực phẩm/động vật tươi sống), Cụm 2 (nguyên liệu thô), và Cụm 8 (hàng chế tác hỗn hợp). Như vậy xét ở mức tổng quát SITC 1 chữ số, cơ cấu lợi thế so sánh của Thái Lan và Việt Nam có nhiều điểm giống nhau, do vậy 2 nền kinh tế có mang tính cạnh tranh khá cao

Indonesia cũng là một nước có có nền nông nghiệp lớn đồng thời có nền công nghiệp phát triển ở mức trung bình trong khu vực, Indonesia có một cơ cấu lợi thế so sánh rất đa dạng. Cơ cấu lợi thế so sánh của Indonesia dựa trên 5 cụm sản phẩm là: Nguyên liệu thô (RCA=3,6) do Indonesia có khá nhiều tài nguyên khoáng sản, Nhiên liệu (RCA=2,0) do Indonesia là nước khai thác và xuất khẩu dầu thô khá lớn, Dầu mỡ động thực vật (RCA=19,6) do Indonesia có nền nông nghiệp lớn, Hàng chế tác cơ bản (RCA=1,1), Hàng chế tác hỗn hợp (RCA=1,1) do Indonesia (với dân số 243 triệu người năm 2009, đông nhất khu vực Đông Nam Á) đã phát triển các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động (dệt may, giày dép)

Trong cơ cấu lợi thế so sánh của Indonesia, có 3 cụm sản phẩm cùng lợi thế so sánh với Việt Nam là Cụm 2 (nguyên liệu thô), Cụm 3 (nhiên liệu) và Cụm 8 (hàng chế tác hỗn hợp). Điều này thể hiện cơ cấu lợi thế so sánh của 2 nước xét ở mức tổng quát SITC 1 chữ số mang tính cạnh tranh nhau khá cao.

Philippin có cơ cấu lợi thế so sánh dựa trên 3 cụm sản phẩm là dầu mỡ động thực vật (RCA=4,2), máy móc/thiết bị vận tải (RCA=1,9) và hàng chế tác hỗn hợp (RCA=1,1). Trong số đó 1 cụm sản phẩm cùng lợi thế so sánh với nước ta là hàng chế tác hỗn hợp.

b) Các nền kinh tế Đông Bắc Á

Trung Quốc. Cơ cấu lợi thế so sánh dựa trên các cụm sản phẩm đều thuộc ngành công nghiệp chế tác, đó là: Hàng chế tác cơ bản (RCA=1,2), Máy móc/thiết bị vận tải (RCA=1,3), Hàng chế tác hỗn hợp (RCA=2,3) chủ yếu là dệt may, giày dép. Trong cơ cấu lợi thế so sánh của Trung Quốc có 1 cụm sản phẩm cùng lợi thế so sánh với Việt Nam là Cụm 8 (hàng chế tác hỗn hợp). Đó là do cả 2 nước đều có lực lượng lao động dồi dào với chi phí nhân công rẻ, nên đều phát triển mạnh ngành công nghiệp nhẹ sử dụng nhiều lao động (dệt may, giày dép). Như vậy, ngoài Cụm 8 mang tính cạnh tranh giữa 2 nước, cơ cấu lợi thế so sánh của Trung Quốc và Việt Nam xét ở mức SITC 1 chữ số mang tính bổ sung lẫn nhau khá cao.

Hồng Kông (Trung Quốc) được xem là một trong 4 Con Rồng châu Á (hay còn gọi là các nền kinh tế công nghiệp hóa mới NIC), cơ cấu lợi thế so sánh của Hồng Kông tập trung vào các cụm sản phẩm chế tác. Đó là máy móc/thiết bị vận tải (RCA=1,5) và hàng chế tác hỗn hợp (RCA=2,4). Trong số đó, đáng lưu ý là Hồng Kông hiện vẫn có lợi thế cạnh tranh đối với Cụm 8 (hàng chế tác hỗn hợp) bao gồm cả ngành công nghiệp nhẹ sử dụng nhiều lao động (dệt may, giày dép).

Hàn Quốc cũng là một NIC như Hồng Kông. Cơ cấu lợi thế so sánh của Hàn Quốc tập trung chủ yếu vào các ngành công nghiệp chế tác. Đó là hàng chế tác cơ bản (RCA=1,1) và máy móc/thiết bị vận tải (RCA=1,6). Cả 2 cụm sản phẩm này nước ta đều không có lợi thế so sánh. Như vậy cơ cấu lợi thế so sánh của Hàn Quốc hoàn toàn khác biệt với Việt Nam, điều cho thấy là mức độ bổ sung giữa 2 nước (mức xét ở mức SITC 1 chữ số) là rất cao.

c) Các nước công nghiệp phát triển

Mỹ là nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới song đồng thời cũng có nền nông nghiệp tiên tiến và có nhiều tài nguyên khoáng sản. Do đó cơ cấu lợi thế so sánh của Mỹ khá đa dạng, dựa trên 4 cụm sản phẩm là Thực phẩm/động vật tươi sống (RCA=1,1), Nguyên liệu thô (RCA=1,5), Hoá chất (RCA=1,2), Máy móc/thiết bị vận tải (RCA=1,3). Trong số đó 2 cụm sản phẩm cùng lợi thế so sánh với nước ta là thực phẩm/động vật tươi sống, nguyên liệu thô.

EU hiện gồm 27 nước thành viên. Hầu hết các đối tác thương mại chính của Việt Nam trong EU (như Anh, Pháp, Đức, Bi, Hà Lan, Tây Ban Nha, Thụy Sỹ) đều thuộc nhóm EU-15, tức 15 thành viên ban đầu có trình độ phát triển cao trong EU. Còn các thành viên mới của EU hiện buôn bán không đáng kể với nước ta.Cơ cấu lợi thế so sánh chung của EU-15 dựa trên 3 cụm sản phẩm là nước giải khát/thuốc lá (RCA=1,8), hoá chất (RCA=1,3), máy móc/thiết bị vận tải (RCA=1,2). Trong số đó không có cụm sản phẩm nào cùng lợi thế so sánh với nước ta. Như vậy cơ cấu lợi thế so sánh của EU-15 hoàn toàn khác biệt với Việt Nam, điều cho thấy là mức độ bổ sung giữa 2 EU-15 và Việt Nam (mức xét ở mức SITC 1 chữ số) là cao.

Nhật là một trong những nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới, song hầu như không có tài nguyên khoáng sản gì. Do đó cơ cấu lợi thế so sánh của Nhật tập trung vào 1 cụm sản phẩm là máy móc/thiết bị vận tải (RCA=1,7). Đây là lĩnh vực hiện nước ta hoàn toàn không có lợi thế so sánh. Như vậy cơ cấu lợi thế so sánh của Nhật hoàn toàn khác biệt với Việt Nam, điều cho thấy là mức độ bổ sung giữa 2 nước (mức xét ở mức SITC 1 chữ số) là rất cao

Australia cũng như Mỹ, Australia là một trong những nước công nghiệp phát triển cao song đồng thời cũng có nền nông nghiệp tiên tiến và lại có rất nhiều tài nguyên thiên nhiên. Do đó, cơ cấu lợi thế so sánh của Australia khá đa dạng, dựa trên 4 cụm sản phẩm là Thực phẩm/động vật tươi sống (RCA=2,0), Nước giải khát/thuốc lá (RCA=2,4), Nguyên liệu thô (RCA=6,7), Nhiên liệu (RCA=1,8). Trong số đó 3 cụm sản phẩm có cùng lợi thế so sánh với nước ta là thực phẩm, động vật tươi sống, nguyên liệu thô, nhiên liệu. Như vậy cơ cấu lợi thế so sánh của Australia và Việt Nam, là khá tương tự điều cho thấy là mức độ cạnh tranh xuất khẩu giữa 2 nước (mức xét ở mức SITC 1 chữ số) là cao

Nga là một nước công nghiệp phát triển trung bình có nhiều tài nguyên khoáng sản (đặc biệt dầu mỏ, khí đốt). Cơ cấu lợi thế so sánh dựa trên 3 cụm sản phẩm là nguyên liệu thô (RCA=1,1), nhiên liệu (RCA=4,7), hàng chế tác cơ bản (RCA=1,1). Trong số đó 2 cụm sản phẩm cùng lợi thế so sánh với nước ta là nguyên liệu thô, nhiên liệu.

- Phân tích mức độ bổ sung/cạnh tranh của các đối tác dựa trên sản phẩm xuất nhập khẩu chính của Việt Nam

a) Mức độ cạnh tranh đối với các sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.

Trong 20 sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, 17 sản phẩm có lợi thế so sánh (RCA>1). Các sản phẩm này chiếm khoảng 3/4 tổng kim ngạch xuất khẩu của nước ta, nên việc đánh giá mức độ bổ sung hay cạnh tranh giữa Việt Nam với các nước đó dựa trên các sản phẩm đó có tính đại diện cao. Kết quả tính toán chỉ số RCA ở mức SITC 3 chữ số của các đối tác thương mại chính của Việt Nam năm 2007 xét trên 17 sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Dựa trên kết quả đó, có thể chia các đối tác thương mại chính của Việt Nam thành 2 nhóm.

Nhóm các nền kinh tế không có hoặc có ít sản phẩm cùng lợi thế so sánh với nước ta, gồm Xingapo, Nhật Bản, Hàn Quốc, EU-15, Mỹ, Australia và Nga:

Nhật Bản, Hàn Quốc, Xingapo không có sản phẩm trùng lợi thế so sánh với nước ta. Mỹ, EU, Australia, Nga có 2/17 sản phẩm trùng lợi thế so sánh với nước ta (Mỹ: gạo, hoa quả, EU: vali, túi du lịch, giày dép; Australia: tôm cua, than; Nga: than, dầu thô).

Nhóm các nền kinh tế có tương đối nhiều sản phẩm trùng lợi thế so sánh với nước ta, gồm Indonesia, Thái Lan, Philippin, Malaysia, Trung Quốc và Hồng Kông

b) Mức độ bổ sung đối với các sản phẩm nhập khẩu chính của Việt Nam

Để đánh giá mức độ bổ sung của các đối tác thương mại đối với nhu cầu nhập khẩu của nước ta, Nhóm nghiên cứu xem xét lợi thế so sánh của các đối tác xét theo các sản phẩm nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam. 20 sản phẩm nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam, chủ yếu là nguyên vật liệu và máy móc thiết bị. Kết quả tính toán chỉ số RCA ở mức SITC 3 chữ số của các đối tác thương mại chính của Việt Nam xét trên các sản phẩm nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam. Dựa trên đó, có thể phân các đối tác thương mại chính của Việt Nam thành 2 nhóm lớn sau:

Nhóm các nước có tương đối nhiều sản phẩm lợi thế so sánh đối với nhu cầu nhập khẩu của nước ta là Hàn Quốc (12/20), Thái Lan (9/20), Hồng Kông (8/20), Mỹ, EU và Nhật Bản (7/20), Xingapo và Trung Quốc (6/20), Nga (5/20). Xét về nhu cầu nhập khẩu của nước ta (chủ yếu là nguyên vật liệu và máy móc thiết bị phục vụ sản xuất) các nước này có tính bổ sung cao đối với nước ta.

Nhóm các nước có tương đối ít sản phẩm lợi thế so sánh đối với nhu cầu nhập khẩu của nước ta là Malaysia (3/20), Indonesia, Philipin và Australia (4/20) có tính bổ sung tương đối thấp đối với nước ta.

- Đánh giá mức độ bổ sung/cạnh tranh tổng thể với Việt Nam

a) Cách tiếp cận

Đánh giá tính cạnh tranh giữa các nước

• Tính cạnh tranh đối với các sản phẩm riêng lẻ. Nếu 2 nước đều có lợi thế so sánh (tức RCA>1) đối với cùng một sản phẩm thì họ sẽ cạnh tranh nhau trên thị trường thế giới để cùng xuất khẩu sản phẩm đó.

• Mức độ cạnh tranh tổng thể giữa 2 nước. 2 nước có nhiều sản phẩm mang tính cạnh tranh và ít sản phẩm mang tính bổ sung (về tổng thể có cơ cấu lợi thế so sánh tương tự nhau) thì mức độ cạnh tranh với nhau trên thị trường thế giới là cao.

Đánh giá tính bổ sung giữa các nước

• Tính bổ sung đối với từng sản phẩm riêng lẻ. Nếu 1 nước có lợi thế so sánh đối với một sản phẩm trong khi nước kia không có lợi thế so sánh (RCA<1) thì 2 nước có tính bổ sung cho nhau đối với sản phẩm đó. Thông thường, nước có lợi thế so sánh xuất khẩu sản phẩm đó, nước không có lợi thế so sánh thì nhập khẩu.

• Mức độ bổ sung tổng thể giữa 2 nước . 2 nước có nhiều sản phẩm mang tính bổ sung và ít sản phẩm mang tính cạnh tranh (nghĩa là về tổng thể có cơ cấu lợi thế so sánh rất khác biệt nhau), thì mức độ bổ sung nhau của 2 nước là cao.

Đánh giá mức độ bổ sung/cạnh tranh tổng thể với Việt Nam

a) Các nền kinh tế có mức độ bổ sung cao với Việt Nam gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Xingapo, EU-15, Mỹ, Australia, Nga. Đặc điểm chung của các nền kinh tế trong nhóm này là đều có tương đối nhiều sản phẩm mang tính bổ sung đối với nhu cầu nhập khẩu của Việt Nam, đồng thời có rất ít sản phẩm cạnh tranh với hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta. Cơ cấu lợi thế so sánh của các nền kinh tế này tập trung nhiều vào các ngành công nghiệp có hàm lượng cao về vốn và công nghệ (Cụm 5, 6, 7). Trong khi đó, cơ cấu lợi thế so sánh của Việt Nam hiện nay đang tập trung chủ yếu trong lĩnh vực nguyên liệu thô/tài nguyên (Cụm 0, 2, 3) và hàng chế tác hỗn hợp (Cụm 8). Do sự khác biệt lớn trong cơ cấu lợi thế so sánh như vậy nên mức độ bổ sung giữa nước ta với các nền kinh tế này là rất cao.

Nhật Bản, Hàn Quốc, Xingapo thể hiện mức độ bổ sung cao đối với Việt Nam. Các nước này không có nhóm sản phẩm nào cạnh tranh với 20 nhóm sản phẩm xuất khẩu hàng đầu của nước ta. Đồng thời, 3 nước này lại có nhiều nhóm sản phẩm có tính bổ sung cho nhu cầu nhập khẩu của nước ta (12/20, 7/20 và 6/20). EU chỉ có 2/17 nhóm sản phẩm cạnh tranh xuất khẩu với nước ta (vali/túi xách, giày dép). Đồng thời, EU có 6/20 sản phẩm có tính bổ sung cho nhu cầu nhập khẩu của nước ta. Do đó, mức độ cạnh tranh giữa Việt Nam và EU là rất thấp và mức độ bổ sung là khá cao. Mỹ, Nga và Australia có mức độ bổ sung khá cao đối với Việt Nam. Mỗi nước chỉ có 2/17 sản phẩm cạnh tranh xuất khẩu với nước ta, trong khi có tương đối nhiều sản phẩm có tính bổ sung cho nhu cầu nhập khẩu của nước ta (lần lượt là 7/20, 5/20 và 4/20).

b) Các nền kinh tế vừa mang tính cạnh tranh và vừa bổ sung với nước ta, gồm Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc và Hong Kông, hầu hết là các nước đang phát triển có nhiều sản phẩm trùng lợi thế so sánh với các sản phẩm xuất khẩu hàng đầu của nước ta đồng thời có nhiều sản phẩm có tính bổ sung cho nhu cầu nhập khẩu của Việt Nam.

6. Kết luận

a) Cơ cấu lợi thế so sánh của Việt Nam

• Giai đoạn 1986-1991 chủ yếu lợi thế sẵn có là tài nguyên phong phú, lao động dồi dào và công lao động thấp.

• Giai đoạn 1992-1996, cơ cấu lợi thế so sánh đã chuyển dịch khá nhanh chóng từ các sản phẩm nông lâm thủy sản, khoáng sản sang các sản phẩm chế tác bậc thấp.

• Giai đoạn từ 1997 đến nay, chuyển dịch tiếp từ các sản phẩm chế tác bậc thấp sang sản phẩm chế tác bậc cao.

b) Tính bổ sung hoặc cạnh tranh giữa các đối tác với Việt Nam.

Xét về mức độ bổ sung hoặc cạnh tranh tổng thể với nước ta, các đối tác thương mại chính của nước ta có thể phân thành:

• Nhóm các nền kinh tế có mức độ bổ sung cao với Việt Nam gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Xingapo, EU-15, Mỹ, Australia, Nga.

• Nhóm các nền kinh tế vừa mang tính cạnh tranh vừa mang tính bổ sung với nước ta, gồm Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc và Hồng Kông.

Xét về tiềm năng mở rộng thị trường, các đối tác có thể phân thành:

• Các nước còn nhiều tiềm năng mở rộng quy mô thương mại với Việt Nam:

- Các đối tác vừa có quy mô kinh tế lớn vừa có mức độ bổ sung cao với Việt Nam (Mỹ, Nhật Bản, EU-15, Nga).

- Các đối tác quy mô kinh tế lớn, song vừa bổ sung vừa cạnh tranh: Trung Quốc.

- Các đối tác quy mô kinh tế trung bình song mức độ bổ sung khá cao (Hàn Quốc, Xingapo, Đài Loan, Australia).

•  Các nước tiềm năng mở rộng quy mô thương mại không lớn do cơ cấu lợi thế so sánh tương tự Việt Nam (các nước ASEAN trừ Xingapo).

•  Các thị trường hiện mới khai thác ít: Châu Phi, Trung Đông, Nam Mỹ./.

Xem toàn văn báo cáo đề tài tại: Thư viện NCIF

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: BBT
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Số lượt truy cập : 1097202