Tin Kinh tế- xã hội  > Thị trường, giá cả

Nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc: thực trạng và giải pháp

Cập nhật lúc: 07/12/2016 12:00:00 AM

1. Thực trạng tình hình nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc

Trong quan hệ thương mại với Trung Quốc, cùng với sự gia tăng của tổng giá trị nhập khẩu, nhập khẩu từ Trung Quốc của Việt Nam tăng mạnh dần qua các năm, đặc biệt bắt đầu từ năm 2007. Giá trị nhập khẩu gấp khoảng 2-3 lần giá trị xuất khẩu và không có dấu hiệu thu hẹp. Cán cân thương mại Việt Nam – Trung Quốc luôn âm, đặc biệt năm 2014, nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc là lớn nhất với 28,78 tỷ USD.

Nếu năm 2001, nhập khẩu từ Trung Quốc chỉ chiếm 9,94% tổng giá trị nhập khẩu, thì đến năm 2015, tỷ lệ này đã lên tới 30,29% và trong 9 tháng đầu năm 2016 đã đạt 28,78% tổng giá trị nhập khẩu.

Trung Quốc chiếm tỷ trọng rất cao trong một số sản phẩm nhập khẩu của Việt Nam, như máy móc, thiết bị, sản phẩm và linh kiện điện tử, nguyên phụ liệu dệt may giày da, điện thoại các loại và linh kiện,… Các sản phẩm này đồng thời cũng nằm trong 10 nhóm hàng nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam (các nhóm hàng nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam gần như không thay đổi). 

2. Nguyên nhân

Thứ nhất, liên quan đến chi phí nhập khẩu. Chi phí nhập khẩu từ Trung Quốc giảm nhiều nhờ vị trí địa lý gần kề. Mặt khác, hàng Trung Quốc nhìn chung có giá cả rẻ hơn so với hàng nhập khẩu cùng loại khác do lợi thế kinh tế nhờ quy mô và tính đa dạng của nền kinh tế, tuy thời hạn sử dụng thấp hơn nhưng vẫn đảm bảo được nhu cầu sử dụng của người Việt Nam. Bên cạnh đó, Hiệp định thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA) được ký kết và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/1/20016. Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế quan của 90% số dòng thuế trong vòng 10 năm, linh hoạt đến lộ trình cuối cùng vào năm 2018. Đặc biệt, từ ngày 1/1/2015, theo Thông tư số 166/2014/TT-BTC, Việt Nam cắt giảm thêm 3.691 dòng thuế xuống 0% so với năm 2014 (nâng số dòng thuế cắt giảm về 0% là 7.983 dòng, chiếm 84,11% tổng biểu), tập trung vào các nhóm mặt hàng: chất dẻo và chất dẻo nguyên liệu, đồ nội thất và các sản phẩm từ gỗ, máy móc thiết bị, linh kiện phụ tùng, máy vi tính và các sản phẩm linh kiện điện tử, vải may mặc, nguyên phụ liệu dệt may, da giày, sản phẩm dệt may và một số sản phẩm sắt thép. Đây cũng là những mặt hàng Việt Nam nhập khẩu nhiều từ Trung Quốc. Do đó, chi phí nhập khẩu từ Trung Quốc sẽ giảm đi đáng kể.

Thứ hai, ngành công nghiệp hỗ trợ trong nước còn yếu kém, do đó phải nhập khẩu từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản… Theo số liệu thống kê của Bộ Công thương, hiện nay nước ta có khoảng 30 ngành kinh tế - kỹ thuật cần đến công nghiệp phụ trợ. Trong đó, nhiều ngành sản xuất hàng xuất khẩu mang lại kim ngạch hàng chục tỷ USD mỗi năm nhưng đang phải nhập khẩu tới 80 - 85% nguyên liệu như sản xuất, lắp ráp ô tô, xe máy, dệt may, da giày…

Thứ ba, có thể nói hàng nhập khẩu từ Trung Quốc có chủng loại đa dạng nhất, trong đó chỉ có một số mặt hàng nước này mới có thể đáp ứng tốt nhất nhu cầu tiêu thụ ở Việt Nam như đồ chơi Trung thu, đồ Tết, đồ thờ cúng và phong thủy v.v… Đây là những nhân tố khiến cho nền kinh tế Việt Nam – Trung Quốc ngày càng gắn kết, phụ thuộc lẫn nhau.

3. Một số giải pháp

Để giảm dần sự phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc đối với các hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam, cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất, đẩy mạnh phát triển ngành công nghiệp phụ trợ. Chính phủ tạo điều kiện và khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân phát triển công nghiệp phụ trợ thông qua các chính sách ưu đãi về thuế, mặt bằng cho các doanh nghiệp. Có chính sách khuyến khích đầu tư, chuyển giao công nghệ, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, tạo điều kiện về vay vốn, thuê mặt bằng, nhà xưởng cho các doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp phụ trợ. Tăng cường hoạt động R&D vào những ngành công nghệ cao, đầu tư cho hoạt động nghiên cứu, gắn kết các cơ sở đào tạo với hoạt động của doanh nghiệp; đồng thời khuyến khích các viện nghiên cứu chuyên ngành triển khai nghiên cứu, thực nghiệm các đề tài, dự án… phục vụ phát triển công nghiệp phụ trợ.

Thứ hai, đa dạng hóa thị trường nhập khẩu, đẩy mạnh đàm phán song phương, đa phương với các thị trường, khu vực thị trường trọng điểm, nhiều tiềm năng. Ngoài ra, tăng cường hệ thống thông tin nhằm cung cấp cho doanh nghiệp các phân tích, dự báo tình hình thị trường cũng như luật pháp, chính sách, tập quán buôn bán đặc thù của từng khu vực thị trường.

Thứ ba, nâng cao năng lực cạnh tranh. Tạo điều kiện khai thông thị trường vốn, thị trường lao động để doanh nghiệp tiếp cận được đến các yếu tố sản xuất. Cải thiện các điều kiện về hạ tầng, ưu tiên cung cấp điện cho sản xuất, đẩy nhanh tiến độ xây dựng hạ tầng giao thông liên quan trực tiếp đến sản xuất công nghiệp. Cải thiện các khâu liên quan thủ tục hành chính ở bến cảng, ở khu công nghiệp và những nơi có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp.

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Trần Thị Phương Ly (Ban Tổng hợp)
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202