Phân tích và Dự báo > Báo cáo 6 tháng

Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2016

Cập nhật lúc: 05/07/2016 03:39:00 PM

I. Tăng trưởng kinh tế:

Trong 6 tháng đầu năm 2016, tình hình tăng trưởng kinh tế có cải thiện nhưng tốc độ tăng đã giảm mạnh so với cùng kỳ. Đáng chú ý, tăng trưởng GDP Q1/2016 chỉ đạt 5,46%, thấp hơn 0,66 điểm % so với cùng kỳ năm trước (Q1/2016: 5,46%, Q1/2015: 6,12%). Sang quý II, tăng trưởng kinh tế khởi sắc hơn so với quý trước. Tuy nhiên so sánh với cùng kỳ thì mức tăng trưởng của quý II rõ ràng kém hơn so với đà tăng của cùng kỳ năm 2015. Tăng trưởng quý II/2016 chỉ đạt 5,57% (quý II/2015 đạt 6,47%).

Nguyên nhân chủ yếu là do:

1. Về phía cung: khu vực công nghiệp & xây dựng có tăng trưởng giảm tốc so với cùng kỳ và khu vực nông, lâm, thủy sản ghi nhận mức tăng trưởng âm[1].

Cụ thể:

- Đối với ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản: Do tình hình thiên tai gay gắt diễn ra trên diện rộng, đặc biệt là hiện tượng El Nino kéo dài từ cuối năm 2014, rét buốt, băng giá tại các tỉnh phía Bắc và hạn hán, xâm nhập mặn tại các tỉnh phía Nam và ô nhiễm môi trường biển tại các tỉnh miền trung nên giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng đầu năm giảm so với cùng kỳ.

- Sản xuất công nghiệp có cải thiện nhưng mức tăng đã chậm lại hơn nhiều so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 6 tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm tăng 7,5% so với cùng kỳ năm 2015 (cùng kỳ tăng 9,6%). Nguyên nhân cho sự tăng trưởng chậm lại của khu vực công nghiệp chủ yếu do hai ngành công nghiệp chủ lực là ngành khai khoáng bị sụt giảm khi giá dầu thô thế giới vẫn đang ở mức thấp và công nghiệp chế biến, chế tạo có mức tăng trưởng giảm đáng kể so với cùng kỳ.

Ngành xây dựng cũng ghi nhận mức tăng ấn tượng, đã đạt 9,94% trong quý I/2016, cao nhất kể từ năm 2010 trở lại đây[2]. Bước sang quý II/2016, thị trường bất động sản tiếp tục duy trì đà tăng trưởng so với cùng kỳ, nhưng có phần chậm lại so với thời điểm quý IV năm 2015, đặc biệt ở thị trường căn hộ.

-  Hoạt động dịch vụ trong những tháng đầu năm 2016 cũng phát triển tương đối ổn định. Mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng mặc dù có tăng trưởng trưởng thấp hơn so với cùng kỳ nhưng vẫn đang trong xu hướng cải thiện. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu tiêu dùng 6 tháng đầu năm sau khi loại trừ yếu tố giá tăng 7,5% so với cùng kỳ năm 2015 (cùng kỳ tăng 8,2%). Hoạt động dịch vụ du lịch cũng tương đối nhộn nhịp. Khách quốc tế đến nước ta 5 tháng đầu năm ước tính tăng 18,9% so với cùng kỳ năm trước.

2) Về phía cầu:

a) Tiêu dùng tăng trưởng chậm lại

Tăng trưởng về cầu tiêu dùng vẫn cho thấy xu hướng hồi phục tích cực nhưng tốc độ lại chậm tương đối so với năm 2015. Tính 6 tháng đầu năm tiêu dùng cuối cùng ước tăng 6,98%, thấp hơn so với mức tăng 8,7% của năm 2015 nhưng vẫn là mức tăng trưởng tương đối tốt so với các năm trước đó. Nguyên nhân dẫn đến mức tăng thấp hơn một phần là do yếu tố giá cả khi giá hàng hóa và dịch vụ thiết yếu đầu năm 2016 đều tăng.

Tăng trưởng tích cực của tiêu dùng cũng được thể hiện qua tốc độ tăng của Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ cả 6 tháng đầu năm đạt 1,724 nghìn tỷ đồng, ước tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước. Tăng trưởng tổng mức bán lẻ hàng hóa những tháng đầu năm vẫn được duy trì ở mức khá cao.

b) Xuất nhập khẩu

Tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu 6 tháng đầu năm ước đạt 82,24 tỷ USD và tổng kim ngạch nhập khẩu ước đạt 80,7 tỷ USD. Như vậy, ước tính chung 06 tháng đầu năm 2016, tổng kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam đã đạt 162,94 tỷ USD, tính chung Việt Nam đã xuất siêu 1,5 tỷ USD.

Về xuất khẩu: Tính chung 06 tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất khẩu ước đạt 82,24 tỷ USD, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, nếu so sánh với cùng kỳ các năm trước, tốc độ tăng trưởng này là khá thấp so với con số tăng trưởng các năm trước đó (22,77% năm 2012; 15,44% năm 2013, 15,33% năm 2014 và 9,3% năm 2015).

Về mặt hàng xuất khẩu: Xuất khẩu hàng hóa giảm chủ yếu là do sự sụt giảm xuất khẩu của một số hàng hóa như hàng dệt may, máy tính và linh kiện, giày dép, thủy sản, đặt biệt là các mặt hàng như phương tiện vận tải và phụ tùng, dầu thô, sắn và sản phẩm từ sắn, và sắt thép giảm sâu.

Về cơ cấu thị trường xuất: Hoa Kỳ vẫn là đối tác xuất khẩu lớn nhất, ước khoảng 19,2% tổng xuất khẩu của Việt Nam. Các đối tác như EU, ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc ước đạt tương ứng 17,1%,  8,8%, 5.6%, 7% và 5,6% tổng giá trị kim ngạc hàng hóa xuất khẩu.

Về nhập khẩu: Tính chung 06 tháng đầu năm kim ngạch nhập khẩu toàn nền kinh tế ước đạt 80,7 tỷ USD, giảm 0,5% so với cùng kỳ năm trước. Đây là con số nhập khẩu thấp nhất trong vòng 4 năm trở lại đây. Cụ thể, nhập khẩu 06 tháng các năm 2012, 2013, 2014 và 2015 tăng so với cùng kỳ các năm trước tương ứng 7,38%, 16,02%, 10,46% và 17,82%.

Về mặt hàng nhập khẩu: Hầu hết các mặt hành nhập khẩu đều giảm, trong đó có một số mặt hàng nhập khẩu giảm sâu như điện thoại và linh kiện, hóa chất, máy  móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác, thức ăn gia súc và nguyên liệu, xăng dầu, và kim ngạch nhập khẩu ô tô.

Về cơ cấu thị trường nhập khẩu: Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất, ước đạt khoảng 25% tổng nhập khẩu của Việt Nam. Các thị trường nhập khẩu khác như Hàn Quốc, ASEAN, Nhật Bản và EU ước chiếm tương ứng 16%; 12,1%; 7,3% và 5% tổng giá trị kim ngach hàng hóa nhập khẩu.

c) Vốn đầu tư phát triển

Tính đến đầu tháng 6 năm 2016, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước đạt 83,3 nghìn tỷ đồng mặc dù tăng 11,5% so với cùng kỳ năm trước nhưng mới chỉ bằng 33,8% kế hoạch năm. Theo Quyết định số 801/QĐ-TTg được Thủ tưởng Chính phủ ban hành ngày 12/5/2016, giao các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương kế hoạch vốn đầu tư nguồn ngân sách nhà nước và danh mục dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển nguồn ngân sách trung ương năm 2016 (đợt 2), tổng số vốn kế hoạch ngân sách trung ương năm 2016 (đợt 2) được giao là 13.583,962 tỷ đồng, bao gồm vốn trong nước là 11.850,453 tỷ đồng, vốn nước ngoài 1.733,509 tỷ đồng. Trong đó, các bộ, ngành trung ương được giao kế hoạch đầu tư nguồn ngân sách trung ương là 6.519,685 tỷ đồng; các địa phương  được giao 7.064,277 tỷ đồng.

Như vậy, tính đến cuối năm, lượng vốn đầu tư thực hiện giải ngân theo kế hoạch vẫn còn khá lớn, điều này đòi hỏi các bộ, ngành, địa phương cần tích cực chỉ đạo quyết liệt các chủ đầu tư khẩn trương xử lý dứt điểm những dự án còn nhiều vướng mắc; chủ động phối hợp các cấp, các ngành liên quan xử lý các vướng mắc phát sinh trong quá trình giải ngân vốn đầu tư… Điều này sẽ làm giảm áp lực chi NSNN những tháng cuối năm, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, tạo tiền đề thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Về đầu tư trực tiếp nước ngoài có nhiều yếu tố thuận lợi để thúc đẩy việc thu hút nguồn vốn. Đầu tư trực tiếp nước ngoài 6 tháng đầu năm là một trong những điểm sáng của bức tranh tổng thể của nền kinh tế vĩ mô, đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 6 tháng đầu năm tăng cao so với cùng kỳ năm trước và ước tính đạt 7,1 tỷ USD.

 

II. Về ổn định vĩ mô

1. Lạm phát

Chỉ số giá cả (CPI) trung bình quí I năm nay đã tăng 1,25% cao hơn so với năm trước (con số này năm trước là 0,74%). Sang quí II, chỉ số CPI các tháng trong quí đã có mức tăng cao nhất trong vòng 5 năm gần đây(các con số tương ứng trong tháng 4, tháng năm và tháng sáu là 0,33%;  0,54% và 0,46%) so với tháng trước. Nguyên nhân chủ yếu là do giá một số nhóm hàng hoá và dịch vụ tăng cao như nhóm giao thông (do giá xăng dầu thế giới tăng), giá dịch vụ y tế, giáo dục (tăng theo lộ trình), giá vật liệu xây dựng,..

2. Thu chi ngân sách nhà nước

Tình hình thu ngân sách những tháng đầu năm 2016 đang gặp nhiều khó khăn trong thu từ Doanh nghiệp Nhà nước và Thu từ dầu thô. Ước tính thu ngân sách 6 tháng đầu năm đạt 476,8 nghìn tỷ đồng, bằng 47% dự toán; tăng 6,1% so với cùng kỳ năm 2015, đây là mức tăng thấp nhất so với cùng kỳ hai năm gần đây. Nguyên nhân chính là do nguồn thu giảm từ nhà máy lọc dầu Dung Quất vì giá dầu giảm. Bên cạnh đó, những khó khăn trong hoạt động xuất nhập khẩu cũng hạn chế phần nào tới nguồn Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, những điểm sáng trong thu từ doanh nghiệp FDI và thuế công, thương nghiệp, và một số các yếu tố khác, nên khả năng thu ngân sách năm 2016 vẫn có thể đạt và tăng cao hơn so với dự toán.

Đối với các vấn đề chi ngân sách, do trong năm 2016 sẽ liên quan nhiều đến các hoạt động bầu cử nên khả năng chi ngân sách sẽ tăng cao hơn so với dự toán.

-------------------------------------------------------------------------------

1. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng trưởng âm (-1,23%); khu vực công nghiệp và xây dựng tăng thấp hơn so với cùng kỳ (Q1/2016: 6,72%; Q1/2015: 8,35%). Dịch vụ là khu vực duy nhất có mức tăng cao hơn so với cùng kỳ (Q1/2016: 6,13%; Q1/2015: 5,82%)

 

[2] Mức tăng quý I của ngành xây dựng của một số năm: Năm 2011 tăng 0,35%; năm 2012 tăng 1,18%; năm 2013 tăng 4,76%; năm 2014 tăng 5,93%; năm 2015 tăng 5,6%.

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban PT&DB
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Các tin liên quan

Số lượt truy cập : 1097202