Phân tích và Dự báo > Báo cáo quý

Một số nét nổi bật về tình hình kinh tế Việt Nam trong quý I/2016

Cập nhật lúc: 05/05/2016 10:47:50 AM

1. Tăng trưởng phục hồi chậm lại

Tình hình tăng trưởng kinh tế trong những tháng đầu năm vẫn đang tiếp diễn xu thế phục hồi của năm 2015, nhưng tốc độ tăng so với cùng kỳ đã chậm lại một cách rõ rệt. Ước tính tăng trưởng quý I/2016 đạt 5,46%, thấp hơn nhiều mức 6,12% của quý I/2015. Sự tăng tốc chậm lại của nền kinh tế trong quý I/2016 chủ yếu do tăng trưởng của khu vực công nghiệp – xây dựng chậm lại so với cùng kỳ và sự suy giảm của khu vực nông, lâm, thủy sản do chịu những tác động tiêu cực của diễn biến thời tiết khắc nghiệt (rét đậm, hạn hán và xâm nhập mặn). Thành tố quan trọng nhất đóng góp vào mức tăng trưởng của toàn nền kinh tế là khu vực dịch vụ, tăng 6,13%, đóng góp 2,48 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng chỉ đạt 6,72%, đóng góp 2,33 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung (thấp hơn tương đối so với mức 8,74% của quý I/2015); riêng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đã giảm 1,23%, làm giảm 0,16 điểm phần trăm mức tăng trưởng chung.

Trong đó:

  • Khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản: Do tình hình thiên tai gay gắt diễn ra trên diện rộng, đặc biệt là hiện tượng El Nino kéo dài từ cuối năm 2014, rét buốt, băng giá tại các tỉnh phía Bắc và hạn hán, xâm nhập mặn tại các tỉnh phía Nam nên giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Quý I/2016 giảm mạnh, ước tính đạt 178,8 nghìn tỷ đồng, giảm 1,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Nông nghiệp đạt 137 nghìn tỷ đồng, giảm 2,5%; lâm nghiệp đạt 6,4 nghìn tỷ đồng, tăng 6,3%; thủy sản đạt 35,4 nghìn tỷ đồng, tăng 2,3%.

- Sản xuất công nghiệp có cải thiện nhưng mức tăng đã chậm lại hơn nhiều so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số sản xuất công nghiệp 3 tháng đầu năm chỉ tăng 6,3% so với cùng kỳ năm 2015, là mức tăng thấp nhất so với cùng kỳ 03 năm gần đây[1]; trong đó, các ngành chế biến chế tạo có mức tăng trưởng tốt nhất (IIP tăng khoảng  7,9%, đóng góp 5,6 điểm phần trăm trong mức tăng chung). Nguyên nhân chủ yếu của sự tăng trưởng chậm lại của khu vực công nghiệp chủ yếu do hai ngành công nghiệp chủ lực là ngành khai khoáng bị sụt giảm và công nghiệp chế biến, chế tạo có mức tăng giảm đáng kể. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,8%, thấp hơn so với mức tăng 9,51% của cùng kỳ năm 2015, và ngành khai khoáng đã giảm 4,5% (riêng khai thác dầu thô giảm 6,4%).

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01/3/2016 tăng 8,7% so với cùng thời điểm năm 2015, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm: Sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu giảm 3,8%; sản xuất thiết bị điện giảm 4%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 4,8%...  Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với mức tăng chung: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 83,1%; sản xuất đồ uống tăng 56,6%; sản xuất xe có động cơ tăng 46,6%...

Hoạt động sản xuất của doanh nghiệp mặc dù phục hồi chậm hơn so với cùng kỳ nhưng vẫn được đánh giá là đang trên đà cải thiện. Chỉ số Nhà quản trị Mua hàng (PMI) ngành sản xuất Việt Nam Nikkei và Markit Economics khảo sát đã giảm từ mức 51,5 điểm trong tháng 1 xuống 50,3 điểm trong tháng 2, nhưng đã tăng nhẹ lên mức 50,7 điểm trong tháng 3. Đây là tháng thứ tư liên tiếp chỉ số PMI đứng trên ngưỡng 50 điểm, cho thấy các điều kiện kinh doanh của ngành chế biến chế tạo tiếp tục tăng trưởng.

Ngành xây dựng ba tháng đầu năm đạt mức tăng trưởng ấn tượng với mức tăng 9,94%, cao nhất kể từ năm 2010 trở lại. Thị trường bất động sản tiếp tục duy trì đà tăng trưởng nhanh trong Q1/2016, đặc biệt ở thị trường căn hộ. Tuy nhiên, tăng trưởng tín dụng cho bất động sản đã tăng cao hơn so với cùng kỳ những năm trước làm dấy lên những lo ngại về khả năng bong bóng bất động sản có thể quay lại.

- Hoạt động dịch vụ trong những tháng đầu năm 2016 cũng phát triển tương đối ổn định. Cùng với mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng[2], hoạt động dịch vụ vận chuyển hành khách và hàng hóa tương đối nhộn nhịp. Vận tải hành khách 3 tháng đầu năm ước tính tăng 8,1%, luân chuyển hành khách ước tính tăng 9,7%, vận chuyển hành hóa ước tính tăng 7%.

2. Lạm phát thấp nhưng có dấu hiệu tăng trở lại

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 1 và tháng 2, tại thời điểm xung quanh Tết nguyên đán 2016 tương đối ổn định. CPI tháng 1 không đổi và CPI tháng 2 tăng 0,42% so với tháng trước, dẫn đến 2 tháng đầu năm chỉ số CPI chỉ tăng 0,42% so với tháng 12 năm trước. Nguyên nhân chính làm cho chỉ số giả cả hàng hoá tương đối ổn định trong hai tháng đầu năm nay chủ yếu là do giá xăng dầu đã giảm mạnh trong tháng 1 và tháng 2, dẫn đến nhóm hàng giao thông giảm mạnh (giảm -6,67% so với tháng 12 năm trước), cùng với giao thông, nhóm hàng hoá nhà ở và vật liệu xây dựng cũng giảm nhẹ (-0,12%). Tuy nhiên do sức tiêu thụ và mua sắm hàng hoá của người dân trong dịp nghỉ tết tăng dẫn đến giá cả một số nhóm hàng hoá như nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,12% so với tháng 12 năm trước.

Sang tháng 3/2016, thị trường hàng hóa dần trở lại bình thường, giá cả các mặt hàng như nhóm thực phẩm, nhóm giao thông, nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tiếp tục giảm nhẹ. Tuy nhiên, do tháng 3 là tháng diễn ra nhiều lễ hội trên cả nước, mặt khác một số loại hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước quản lý giá được điều chỉnh tăng theo lộ trình (giá dịch vụ khám chữa bệnh tăng tối thiểu 30% từ ngày 1/3, dịch vụ giáo dục...) nên đã tác động làm tăng mặt bằng giá chung. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3 đã tăng 0,57% so với tháng trước. Tính chung cả quí I chỉ số CPI tăng 0,99% so với tháng 12 năm trước và đã tăng 1,69% so với cùng kỳ.

3. Xuất khẩu tăng chậm trong khi nhập khẩu tiếp tục giảm

Ước tính đến hết tháng 3/2016, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 14,2 tỷ USD và kim ngạch hàng hóa nhập khẩu 14,1 tỷ USD. Ước tính quý I năm 2016, tổng kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam đã đạt 75 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 37,9 tỷ USD, nhập khẩu đạt 37,1 tỷ USD. Như vậy Việt Nam đã xuất siêu 776 triệu USD trong 3 tháng đầu năm 2016. Khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 4,05 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 4,83 tỷ USD.

Xuất khẩu tăng chậm: Tính chung 3 tháng đầu năm, tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đã tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước. Tốc độ tăng trưởng này là khá thấp so với con số tăng trưởng của các năm trước đó (tốc độ tăng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu trong giai đoạn 2011-2015 lần lượt là: 38,71% năm 2011; 24,48% năm 2012; 17,52% năm 2013, 14,27% năm 2014 và 6,94% năm 2015).

Về cơ cấu thị trường xuất, Hoa Kỳ vẫn là đối tác xuất khẩu lớn nhất, ước khoảng 20,84% tổng xuất khẩu của Việt Nam. Các đối tác như EU, ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc ước đạt tương ứng 19,79%, 11,08%, 10,29%, 8,44% và 6,33% tổng giá trị xuất khẩu.

Nhập khẩu tiếp tục giảm: 3 tháng đầu năm kim ngạch hàng hóa nhập khẩu toàn nền kinh tế ước tính giảm 4,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực có vốn nước ngoài nhập khẩu 22,2 tỷ USD, giảm 5,7% so với cùng kỳ năm trước và chiếm tới 59,83% tổng kim ngạch nhập khẩu; khu vực trong nước nhập khẩu 14,9 tỷ USD chiếm 40,17% tổng kim ngạch hàng hóa nhập khẩu.

Về cơ cấu thị trường nhập khẩu, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất, ước đạt khoảng 28,03% tổng nhập khẩu của Việt Nam. Các thị trường nhập khẩu khác như Hàn Quốc, ASEAN, Nhật Bản và EU ước chiếm tương ứng 18,06%; 14,56%; 8,89% và 5,93% tổng giá trị kim ngach hàng hóa nhập khẩu.

 4. Đầu tư vẫn duy trì tăng trưởng ở mức khá

Trong ba tháng đầu năm 2016, Chính phủ ban hành những chính sách định hướng về những nhiệm vụ, giải pháp thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2016 nói chung và lĩnh vực đầu tư nói riêng nhằm huy động nguồn lực đầu tư trong xã hội và đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn ngân sách nhà nước. Theo đó, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội quý I ước tính đạt 273,6 nghìn tỷ đồng, tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước và bằng 32,2% GDP. Đáng chú ý, khu vực ngoài Nhà nước đã có số vốn đầu tư thực hiện vượt so với hai khu vực còn lại (đạt 100,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 36,7% và tăng 11,5%) trong khi khu vực Nhà nước đạt 96,8 nghìn tỷ đồng và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 76,3 nghìn tỷ đồng.

Đầu năm 2016, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tăng lên đáng kể trong thu hút vốn và số lượng dự án nhờ những yếu tố tích cực của nền kinh tế cùng với sự cải thiện của môi trường kinh doanh. Tính tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới và vốn cấp bổ sung của quý I/2016 đạt 4026,3 triệu USD, tăng 119,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện ước tính đạt 3,5 tỷ USD, tăng 14,8% so với cùng kỳ năm 2015.

5. Tiêu dùng tăng nhẹ

Do yếu tố chu kỳ, dịp lễ tết đầu năm và giá cả được kiểm soát do công tác quản lý điều hành thị trường của Chính phủ nên tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ trong quý I có tăng song mức tăng cũng đang chậm lại so với cùng kỳ của năm trước (hình dưới). Cả quý I/2016 đạt 859 nghìn tỷ đồng, tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn so với mức tăng của cùng kỳ năm trước. Nếu xem xét về mặt giá trị thì có thể thấy một điểm khá khác biệt so với các năm trước là mức tăng tổng bán lẻ hàng hóa và dịch vụ trong tháng 2 là tháng tết âm lịch lại giảm so với tháng 1. Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng ba tiếp tục giảm 3,4% so với tháng 2. Đây là dấu hiệu cho thấy sức mua tăng chậm lại. Sự tụt giảm này chủ yếu là do dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm mạnh so với tháng 1.

Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng khá, đạt mức 9,2% so với cùng kỳ (đóng góp 76% vào tổng giá trị bán lẻ hàng hóa và dịch vụ), doanh thu dịch vụ lưu trú ăn uống tăng 8,5% và dịch vụ khác tăng 8,9% so với cùng kỳ (cùng đóng góp 11% vào tổng giá trị bán lẻ hàng hóa và dịch vụ).

Tiêu dùng cuối cùng quý I/2016 ước đạt 671 nghìn tỷ đồng, tăng 6,87% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù mức tăng này thấp hơn so với mức tăng 8,67% của năm 2015 nhưng vẫn cao hơn rất nhiều so với quý I các năm trước đó. Xu hướng tăng của tiêu dùng là do sự ổn định giá cả và việc cung ứng hàng hóa khá dồi dào từ đầu năm kết hợp với tâm lý tiêu dùng của người dân cũng được cải thiện đáng kể.

6. Thị trường ngoại hối và tỷ giá dần ổn định

Các áp lực điều chỉnh tỷ giá VND/USD từ cuối năm 2015 tiếp tục gây ảnh hưởng trong nửa đầu tháng 1/2016, khiến tỷ giá bình quân tăng cao. Song, tỷ giá có dấu hiệu hạ nhiệt và duy trì ổ định từ cuối tháng 1/2016. Tỷ giá bán tại nhiều NHTM phổi biến ở mức 22.325 – 22.340 VND/USD trong hơn 1 tháng gần đây, giảm 1% (tương đương mức giảm 200 đồng/1USD) so với thời điểm cuối năm 2015.

Các yếu tố hỗ trợ tỷ giá và thị trường ngoại hối hạ nhiệt bao gồm:

Thứ nhất, trong quý I/2016, nguồn cung ngoại tệ được đánh giá là tương đối dồi dào với nguồn FDI giải ngân tăng mạnh, đạt mức 14,8% so với cùng kỳ năm trước, tương đương với 3,5 tỷ USD trong quý I/2016; lượng kiều hối lớn thường tập trung vào giai đoạn này; cùng với đó, Việt Nam ghi nhận xuất siêu 1,98 tỷ USD trong quý I/2016. Trong khi cầu ngoại tệ sau giai đoạn căng thẳng cuối 2015 đã dịu lại trong những tháng đầu năm 2016 do tâm lý thị trường ổn định trở lại.

Thứ hai, áp lực tỷ giá từ bên ngoài đã có phần lắng dịu, ít nhất là trong ngắn hạn, khi đồng USD tiếp tục mạnh lên nhưng không quá mạnh mẽ như ở giai đoạn cùng kỳ năm 2015. Nguyên nhân là do những dấu hiệu cải thiện của nền kinh tế Mỹ chưa đủ thuyết phục cũng như đảm bảo tính bền vững khiến FED thực hiện lộ trình tăng lãi suất sẽ theo hướng dẫn thận trọng và chậm rãi trong thời gian tới.

Thứ ba, ở trong nước, hàng loạt các biện pháp và quy định mới trong việc điều hành tỷ giá và thị trường ngoại hối của NHNN đã phát huy tác dụng trong việc bình ổn thị trường, như: chính sách hạ lãi suất USD; áp dụng cơ chế điều hành tỷ giá trung tâm khiến diễn biến tỷ giá không quá căng thẳng như thời điểm cuối năm 2015.

7. Mặt bằng lãi suất huy động tăng nhẹ

Trong 3 tháng đầu năm 2016, lãi suất huy động tại các ngân hàng thương mại có dấu hiệu tăng nhẹ mặc dù vẫn ở mức thấp. Trong đó, lãi suất huy động các kỳ hạn ngắn dưới 6 tháng được duy trì ở mức 4-5,5%/năm; với kỳ hạn từ 6-12 tháng, lãi suất huy động từ 5,4-6,8%/năm; kỳ hạn từ 12 tháng trở lên lãi suất từ 6-8%/năm. Trong khi đó, mặt bằng lãi suất cho vay hầu như không có biến động so với cuối năm 2015. Lãi suất cho vay các lĩnh vực ưu tiên phổ biến ở mức 6%-7%/năm đối với ngắn hạn và 9-10%/năm đối với trung và dài hạn. Lãi suất cho vay các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường ở mức 6,8%-9%/năm đối với ngắn hạn; 9,3-11%/năm đối với trung và dài hạn.

Các yếu tố khiến lãi suất huy động tăng nhẹ bao gồm: (1) Lạm phát tăng cao hơn so với cùng kỳ năm 2015, mặc dù vẫn ở mức tương đối thấp; (2) Những lo ngại về rủi ro giảm giá VND trong năm 2016 vẫn hiện hữu; (3) Một số diễn biến trong hệ thống ngân hàng thời gian qua cũng thúc đẩy nhu cầu tăng cường huy động vốn; đặc biệt là khi tăng trưởng huy động trong năm 2015 (ở mức 15,64%) thấp hơn nhiều so với tăng trưởng tín dụng (17,29%) khiến tỷ lệ LDR của một số ngân hàng ở mức cao; và (4) Dự thảo sửa đổi thông tư 36 theo hướng thắt chặt hơn quy định về tỷ lệ vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn cũng khiến các NHTM gia tăng lãi suất huy động trung và dài hạn để đảm bảo an toàn hệ thống.

8. Thu ngân sách có sự cải thiện

Tình hình thu ngân sách những tháng đầu năm 2016 đã có những dấu hiệu tích cực hơn 2015. Cụ thể, theo số liệu ước tính, tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/3/2016 ước tính bằng 20,7% dự toán năm cao hơn so với mức cùng kỳ năm 2015 (19,8%). Trong cơ cấu của tổng thu bao gồm: thu nội địa bằng 22,4%; thu từ dầu thô bằng 13,38%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu bằng 15,8%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước bằng 20,2% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) bằng 22,3%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước bằng 23,9%; thuế thu nhập cá nhân bằng 23,1%; thuế bảo vệ môi trường bằng 19,4%; thu tiền sử dụng đất bằng 22,5%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/3/2016 ước tính bằng 19,1% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển bằng 18,34%; chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể bằng 19,53%; chi trả nợ và viện trợ bằng 21,37%.

 


[1] IIP quý I các năm 2013, 2014, 2015 lần lượt tăng 4,9%; 5,2% và 9,1% so với cùng kỳ năm trước

[2] Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu tiêu dùng tăng hơn 8% so với cùng kỳ năm 2015.

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Phân tích & Dự báo
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202