Tin Kinh tế- xã hội  > Doanh nghiệp

Dư địa cho doanh nghiệp trong nước tham gia vào công nghiệp hỗ trợ cho ngành dệt may

Cập nhật lúc: 06/01/2016 03:08:26 PM

Hiện trạng ngành dệt may Việt Nam là một ngành gia công xuất khẩu, tham gia ở phân đoạn sản xuất trong chuỗi giá trị nên giá trị gia tăng thấp. Trong các văn bản định hướng phát triển ngành dệt may, Chính phủ đều nhấn mạnh đến việc nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, tức là khuyến khích vai trò và sự tham gia của các doanh nghiệp dệt may trong nước nhằm nâng cao chuỗi giá trị, làm chủ công nghệ, kỹ thuật và tăng sức cạnh tranh. Tuy nhiên, sự tham gia của doanh nghiệp trong nước trong công nghiệp phụ trợ cho ngành dệt may hiện nay còn rất hạn chế mặc dù còn dư địa lớn.

Vai trò của doanh nghiệp trong nước trong chuỗi giá trị ngành dệt may

Khu vực doanh nghiệp trong nước hiện nay đóng góp được bao nhiêu phần trăm vào chuỗi giá trị ngành dệt may hiện vẫn chưa có số liệu thống kê chính thức. Theo phân tích về chuỗi giá trị ngành dệt may của Phạm Minh Đức (2014), ngành dệt may Việt Nam hiện nay chủ yếu tham gia ở công đoạn sản xuất theo hợp đồng, công đoạn này chiếm khoảng 25% giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị. Phần giá trị này còn bị hao hụt thêm do phải nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt may. Như vậy, phần giá trị để lại cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam rất thấp. Đi kèm với thành tích xuất khẩu cao cũng là thành tích nhập khẩu cao.

Điểm này có thể chứng minh rõ hơn khi xem xét một số chỉ số đánh giá mức độ lan tỏa kinh tế và mức độ kích thích nhập khẩu ngành dệt may Việt Nam. Về mức độ lan tỏa đến nền kinh tế , các sản phẩm dệt may sợi, dệt đều có hệ số lan tỏa tương đối cao (lớn hơn 1), tuy nhiên lại có xu hướng giảm từ 2007 tới 2011. Sản phẩm trang phục các loại và một số sản phẩm đặc thù khác lại có mức lan tỏa không cao mặc dù có chút cải thiện. Hệ số lan tỏa kinh tế của sản phẩm tiêu dùng dệt may không cao cho thấy ảnh hưởng hạn chế của một ngành được xem là thế mạnh của Việt Nam với các ngành cung cấp đầu vào hay sử dụng đầu ra của nó. Còn xét về chỉ số kích thích nhập khẩu, tất cả các ngành trong chuỗi giá trị dệt may đều có chỉ số này cao (lớn hơn 1) và lại còn có xu hướng tăng từ 2007 tới 2011 cho thấy khi ngành đó phát triển ngày càng kéo theo nhu cầu nhập khẩu nhiều hơn thay vì kích thích chuỗi giá trị trong nước. Mặc dù kết quả tính toán từ bảng cân đối liên ngành chưa cập nhật đến thời điểm hiện tại nhưng nếu xét về xu hướng nhập khẩu ngày càng tăng thời gian gần đây, có thể khẳng định ngành dệt may Việt Nam vẫn chưa thực sự xây dựng được chuỗi giá trị trong nước, các doanh nghiệp trong nước có vai trò rất hạn chế và thậm chí ngày càng giảm trong việc đóng góp vào công nghiệp hỗ trợ cho ngành này.

 

Dư địa cho các doanh nghiệp Việt Nam


Công đoạn sản xuất nguyên liệu (bông), doanh nghiệp chủ yếu tham gia phần thu mua chế biến, kinh doanh bông vải (bao gồm cả nhập khẩu bông), công đoạn sản xuất trồng bông tham gia rất ít và chủ yếu triển khai ở các hộ nông dân. Do vậy, quy mô trồng bông manh mún, trình độ canh tác lạc hậu, phụ thuộc vào thời tiết, diện tích gieo trồng thường xuyên biến động do người nông dân chuyển sang các loại cây trồng khác đem lại giá trị cao hơn. Kết quả, nguyên liệu này trong nước hiện chỉ có thể đáp ứng được khoảng 1,2% nhu cầu, phần còn lại tương ứng 98,8% phải nhập khẩu.


Công đoạn sản xuất sợi khả quan nhất trong chuỗi các sản phẩm hỗ trợ dệt may Việt Nam và hiện có số lượng doanh nghiệp tham gia nhiều nhất trong tổng số doanh nghiệp hỗ trợ. Nguyên nhân chính bởi ngành sợi đã phát huy được lợi thế cạnh tranh về chi phí đầu vào thấp so với các nước mà cụ thể là chi phí nhân công và tiền thuê đất, trong khi nhu cầu sợi của thị trường thế giới tăng nhanh. Tuy nhiên, doanh nghiệp sản xuất sợi Việt Nam chỉ mới tập trung ở phân khúc sản phẩm cấp thấp, trung bình, chưa đa dạng về chủng loại, chất lượng các sản phẩm sợi chưa cao. Do vậy, không đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp dệt may hàng cao cấp đòi hơi nhiều loại nguyên liệu sợi khác nhau. Dệt may Việt Nam vẫn đang phải nhập các loại xơ, sợi tổng hợp, sợi pha với tỷ lệ khác nhau phục vụ cho ngành dệt, trong khi đó 2/3 sản phẩm sợi sản xuất trong nước lại đi xuất khẩu.


Doanh nghiệp dệt vải Việt Nam hiện nay còn phát triển chậm, trình độ máy móc thiết bị trong ngành còn lạc hậu. Việt Nam chưa có nhà máy dệt nào hiện đại đạt tiêu chuẩn, các nhà máy dệt chủ yếu lâu đời và cũ kỹ. Một số dự án đầu tư đã bắt đầu được áp dụng để xây dựng cơ sở hạ tầng nhà xưởng, máy móc cho các nhà máy dệt trong các cụm khu công nghiệp mới.
Nhuộm đang là nút thắt trong chuỗi sản phẩm dệt may Việt Nam. Nước ta hiện không có nhiều nhà máy nhuộm đáp ứng được những tiêu chuẩn cần thiết, năng lực sản xuất lại quá nhỏ nên không thế đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của sản xuất trong nước. Gần đây, một số doanh nghiệp may lớn trong nước có hướng đầu tư công nghiệp nhuộm để đảm bảo chuỗi sản phẩm, tuy nhiên máy móc và công nghệ để thực hiện công đoạn nhuộm đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu rất cao, đặc biệt là hệ thống xử lý nước thải. Nước ta chưa tự sản xuất được các loại sản phẩm thuốc nhuộm, loại sản xuất được thì giá thành rất cao, chính vì vậy nên 100% thuốc nhuộm trong ngành dệt may hiện đều phải nhập khẩu. Tỷ lệ chất trợ và hoá chất cơ bản trong nước sản xuất cung cấp cho ngành dệt chiếm từ 5-15%, nhưng hầu hết là những sản phẩm có giá trị thấp. Kết quả  các công ty dệt và nhuộm trong nước chỉ đáp ứng được 11,8% tổng số vải nhuộm trong số 6,8 tỷ mét vải nhuộm nhu cầu năm, còn lại 6 tỷ mét vải nhuộm phải nhập khẩu.


Đối với sản xuất máy móc, thiết bị, hầu như chưa có các doanh nghiệp trong nước sản xuất dây chuyền và các máy móc chuyên phục vụ sản xuất các ngành này. Gần như toàn bộ các dây chuyền và thiết bị sản xuất của ngành dệt may, da giày hiện nay của Việt Nam đều phải nhập khẩu. Tập đoàn Dệt may Việt Nam trước đây cũng đã có nhà máy sản xuất các loại máy móc này, song hiện nay đã dừng sản xuất để tập trung vào những khâu sản xuất có thế mạnh. Số doanh nghiệp Việt Nam sản xuất, cung cấp trang thiết bị ngành dệt may rất hiếm hoi và chỉ có thể cung cấp máy móc ở một vài công đoạn sản xuất. Ví dụ Công ty Cổ phần Công nghệ Nhất Tín với sản phẩm thế mạnh mà máy cắt vải thay thế cho công đoạn cắt và trải vải bằng tay, giúp giảm lượng nhân công từ 50 lao động xuống chỉ cần 8 lao động . Các nhà máy cơ khí phục vụ ngành dệt may trước đây hiện còn 4 đơn vị chính là Công ty cơ khí dêt may Hưng Yên, Công ty cơ khí may Gia Lâm, Công ty cơ khí Dệt May Nam Định, Công ty cơ khí Dệt May Thủ Đức. Tuy nhiên, năng lực sản xuất của các nhà máy này rất hạn chế chủng loại máy móc sản xuất lạc hậu, không theo kịp trình độ đổi mới công nghệ của các nước. Hiện sản phẩm sản xuất chính của các nhà máy cơ khí trong nước chủ yếu là các chi tiết, thiết bị nhỏ thay thế trong quá trình sản xuất bị bào mòn như: các chi tiết bánh răng, trục truyền động, sắt suốt…Hiện nay các doanh nghiệp trong ngành may mặc đang quan tâm đến việc đầu tư máy móc, công nghệ mới để tăng năng suất, giảm giá thành sản xuất, nâng cao chất lượng đáp ứng nhu cầu của thị trường. Điều này mở ra cơ hội lớn cho các doanh nghiệp cung cấp máy móc, thiết bị ngành may. Tuy nhiên, hiện chủ yếu các nhà cung cấp nước ngoài đang có lợi thế và nhanh chân nắm bắt cơ hội này bằng cách chủ động xúc tiến tiếp xúc với các doanh nghiệp dệt may Việt Nam qua các kênh như hội chợ triển lãm, giới thiệu sản phẩm trực tiếp,..


Đối với sản phẩm phụ liệu may, khả năng đáp ứng nhu cầu phụ liệu may của các cơ sở trong nước còn rất hạn chế. Hiện đã có các cơ sở sản xuất một số chủng loại phụ liệu chính cho ngành dệt may như: chỉ may, bông tấm, mếch dính, cúc nhựa, khóa kéo, băng chun, nhãn mác, bao bì đáp ứng được một phần nhu cầu của thị trường nội địa. Tuy nhiên, còn nhiều loại sản phẩm trong nước vẫn chưa có khả năng sản  xuất như: các loại băng dệt, băng gai…


Kết luận và khuyến nghị


Tóm lại, có thể thấy mặc dù quy mô các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp cho ngành dệt may khá lớn, chiếm giá trị sản xuất tương đối cao và có xu hướng ngày càng tăng trong thời gian gần đây. Và nếu chỉ nhìn số liệu chung thì bức tranh hoạt động ngành công nghiệp hỗ trợ dệt may Việt Nam tương đối sáng sủa. Tuy nhiên, nhìn vào từng công đoạn trong chuỗi sản phẩm dệt may Việt Nam và sự tham gia doanh nghiệp Việt Nam trong cung cấp sản phẩm CNPT trong từng công đoạn này mới thấy nhiều khoảng trống doanh nghiệp Việt không tham gia. Vai trò và khả năng đóng góp của các doanh nghiệp này hạn chế, chuỗi giá trị trong nước chưa được hình thành và ngành dệt may Việt Nam vẫn phát triển lệ thuộc rất lớn vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu. Dư địa cho doanh nghiệp trong nước hiện nay phần lớn nằm ở lĩnh vực sợi, dệt vải và phụ liệu ngành may.


Việc nâng cao vai trò và sự tham gia của các doanh nghiệp trong nước đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh Việt Nam chuẩn bị gia nhập TPP, và phải tuân thủ các cam kết về quy tắc xuất xứ và chất lượng sản xuất. Chính phủ cần thực hiện đồng bộ các giải pháp về hỗ trợ kỹ thuật, công nghệ và vốn cho doanh nghiệp trong nước; trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến cải tiến và chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp CNHT ngành dệt may trong nước.


Công nghệ là yếu tố quan trọng nhất cần nâng cấp nếu muốn doanh nghiệp trong nước tận dụng được dư địa của công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may. Phân tích trên cũng đã chỉ ra việc công nghệ thấp dẫn tới sản phẩm không đáp ứng được nhu cầu dẫn tới phần lớn nguyên phụ liệu dệt may phải nhập khẩu. Kinh nghiệm của các nước cũng chỉ ra không thể phát triển được công nghệ trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa thiếu năng lực nếu không có sự hỗ trợ của nhà nước. Việc phát triển một hệ thống hỗ trợ kỹ thuật cho doanh nghiệp mạnh mẽ và đồng bộ cần là ưu tiên quan trọng nếu Nhà nước xem ngành dệt may là lĩnh vực chủ đạo. Trong vấn đề hỗ trợ kỹ thuật cho doanh nghiệp nhỏ và vừa đặc biệt là doanh nghiệp CNPT cho ngành dệt may, Việt Nam nên học hỏi kinh nghiệm từ Hàn Quốc. Trung tâm hỗ trợ kỹ thuật (KOTEC) tại Hàn Quốc đã được phát triển từ năm 1989 và mở  rộng ra tất cả các vùng trên cả nước. KOTEC được đặt dưới sự quản lý của Tổng cục doanh nghiệp nhỏ và vừa và Tổng công ty về doanh nghiệp nhỏ và vừa (SBC) của Hàn Quốc. Hiện nay, hệ thống hỗ trợ kỹ thuật của Hàn Quốc có một trụ sở chính gồm 11 phòng ban, 6 trụ sở kinh doanh và 9 văn phòng; và 52 trung tâm hỗ trợ kỹ thuật trên cả nước. Hoạt động của hệ thống này bao gồm việc thẩm định và đánh giá năng lực công nghệ và kỹ thuật của doanh nghiệp nhỏ và vừa (dựa trên một hệ thống đánh giá công nghệ KTRS được phát triển từ năm 2005); từ đó thực hiện những hỗ trợ, tư vấn về đổi mới công nghệ và quy trình sản xuất tại các doanh nghiệp này. KOTEC cũng quản lý các quỹ tín dụng ưu đãi để hỗ trợ cho quá trình cải tiến kỹ thuật của doanh nghiệp. Nguồn kinh phí cho KOTEC hoạt động được tài trợ bởi ngân sách nhà nước, một phần nguồn thu từ các quỹ tài chính. Hoạt động hỗ trợ kỹ thuật của KOTEC mang lại hiệu quả tài chính rõ rệt cho các doanh nghiệp nhận được hỗ trợ. Trong năm 2012, các doanh nghiệp được KOTEC hỗ trợ có tăng trưởng doanh thu 5,6% (so với mức bình quân 4,5% của SMEs), tỷ lệ thu nhập hoạt động đạt 5,5% (so với mức bình quân 4,3% của SMEs), tỷ lệ lợi nhuận ròng đạt  3,9% (so với mức bình quân 3,3% của SMEs). Do vậy, cần xây dựng hệ thống Trung tâm phát triển CNHT nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp, trong đó nhiệm vụ chủ yếu là hỗ trợ về mặt công nghệ, trung tâm thiết kế mẫu, trung tâm kiểm định chất lường, sàn giao dịch nguyên vật liệu, chi tiết linh kiện… Trung tâm này sẽ là nơi các doanh nghiệp có liên quan có thể sử dụng các dịch vụ và thông tin, có thể coi là điểm gặp gỡ giữa cung và cầu trong sản xuất linh kiện.
 

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ths. Trần Thị Hồng Minh, Nguyễn Việt Dũng
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202