Chính sách - Pháp luật

So sánh Luật Hợp tác xã năm 2012 với Luật Hợp tác xã năm 2003

Cập nhật lúc: 25/11/2015 03:32:51 PM

Luật hợp tác xã 2012 chủ yếu làm rõ hơn bản chất, tổ chức quản lý của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; quyền, nghĩa vụ của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, thành viên hợp tác xã, thành viên liên hiệp hợp tác xã; tiếp thu những quy định pháp luật mang tính cơ bản, ổn định lâu dài được quy định tại Nghị định 177/2004/NĐ-CP ngày 12/10/2004 và Nghị định 87/2005/NĐ-CP ngày 11/7/2005 nhằm bảo đảm tính toàn diện của Luật, đồng thời nhằm hạn chế tối đa việc ban hành văn bản dưới Luật; tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành lập và hoạt động.


1. Về khái niệm hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã (Điều 3)

“Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã.

Liên hiệp hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 04 hợp tác xã tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu chung của hợp tác xã thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý Liên hiệp hợp tác xã.

Khi hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã phát triển đến trình độ cao hơn thì sẽ hình thành các doanh nghiệp của hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã; doanh nghiệp của hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã hoạt động theo Luật doanh nghiệp.”

Liên hiệp hợp tác xã thực chất là tổ chức hợp tác xã của các hợp tác xã có nhu cầu hợp tác với nhau nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, được tổ chức quản lý theo nguyên tắc của tổ chức hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã. Do đó, để tránh trùng lắp, thay cho quy định về liên hiệp hợp tác xã tại chương riêng về liên hiệp hợp tác xã, liên minh hợp tác xã tại Luật Hợp tác xã năm 2003, Luật Hợp tác xã năm 2012 đã ghép các nội dung quy định về liên hiệp hợp tác xã vào các quy định về hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã tại các chương, từ Chương I đến Chương VI, của Luật. Theo đó, các quy định đối với hợp tác xã, Luật 2012 cũng được áp dụng tương tự cho liên hiệp hợp tác xã, và có lưu ý những nội dung đặc thù riêng đối với tổ chức liên hiệp hợp tác xã. Tổ chức liên minh hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã không phải là tổ chức hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, nên được đưa vào Chương VII: Tổ chức đại diện của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã. Như vậy, Luật hợp tác xã 2012 làm rõ hơn bản chất hợp tác xã là tổ chức kinh tế thuộc thành phần kinh tế tập thể; quản lý dân chủ, tự chịu trách nhiệm, đồng sở hữu hợp tác xã; số lượng tối thiểu 7 thành viên mới được thành lập hợp tác xã. Mặc dù Luật không xác định hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, nhưng xác định hợp tác xã thành lập để hợp tác tương trợ nhau trong sản xuất, kinh doanh. Hợp tác xã vẫn được thành lập doanh nghiệp trực thuộc, nhưng chỉ khác là khi hợp tác xã phát triển đến trình độ cao hơn, có nghĩa là hợp tác xã mới thành lập hoặc hợp tác xã hoạt động yếu kém thì chưa được thành lập doanh nghiệp trực thuộc.

Đối với Liên hiệp hợp tác xã, ít nhất 4 hợp tác xã  mới được thành lập Liên hiệp (thay vì hợp tác xã và doanh nghiệp có nhu cầu là có thể thành lập Liên hiệp  hợp tác xã như Luật hợp tác xã  2003)…

2. Về tên gọi những thành viên góp vốn

Tại Điều 2 ( Luật hợp tác xã 2012) quy định: “Luật này áp dụng đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, thành viên hợp tác xã (sau đây gọi là thành viên), hợp tác xã thành viên của liên hiệp hợp tác xã (sau đây gọi là hợp tác xã thành viên) và tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có liên quan đến việc thành lập, tổ chức, hoạt động của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã”.

Như vậy, Luật hợp tác xã năm 2012 đã thay khái niệm “xã viên” trong Luật hợp tác xã năm 2003 bằng khái niệm “thành viên Thể hiện nguyên tắc Hợp tác xã, liên hiệp Hợp tác xã kết nạp rộng rãi thành viên, hợp tác xã thành viên ở các quy định cụ thể: số lượng xã viên giới hạn tối thiểu, không quy định số lượng tối đa;  điều kiện trở thành xã viên được mở rộng hơn cho cả người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam; ( quy định tại điều 13 luật hợp tác xã năm 2012 ). Luật Hợp tác xã có quy định mở rộng quyền được làm thành viên Hợp tác xã của đối tượng là người nước ngoài cư trú tại Việt Nam. Tuy nhiên, quy định này có thể dẫn đến nguy cơ người nước ngoài thành lập Hợp tác xã tại Việt Nam, tận dụng các lợi thế và các chính sách ưu đãi đối với Hợp tác xã để kinh doanh và có thể gây thiệt hại cho các chủ thể khác trong nước, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp. Bên cạnh đó, trong Luật Hợp tác xã đã quy định rõ “Chính Phủ sẽ quy định cụ thể các điều kiện làm xã viên Hợp tác xã đối với người nước ngoài cư trú tại Việt Nam”. Như vậy, chúng ta có thể có các quy định hạn chế và kiểm soát chủ thể này khi thành lập Hợp tác xã.

Ngoài ra còn bãi bỏ đối tượng cán bộ công chức được tham gia HTX với tư cách là thành viên.

3. Về nguyên tắc tổ chức, hoạt động

Ở luật hợp tác xã năm 2003 thì nguyên tắc tổ chức, hoạt động chỉ có 5 điểm, còn ở luật hợp tác xã 2012 có 7 điểm. Luật Hợp tác xã bổ sung những nguyên tắc mới rất đặc thù bao gồm các nguyên tắc được quy định tại khoản 2 và khoản 5 Điều 7 của Luật Hợp tác xã 2012. Qua đó, phân tích sự thể hiện của nguyên tắc này trong các quy định cụ thể của Luật Hợp tác xã 2012:

Thể hiện nguyên tắc Hợp tác xã, liên hiệp Hợp tác xã kết nạp rộng rãi thành viên,
hợp tác xã thành viên ở các quy định cụ thể:

+ Điều kiện trở thành xã viên là phải có nhu cầu hợp tác với thành viên và nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch vụ của Hợp tác xã;
+ Các quy định về quyền và nghĩa vụ của Hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác xã và thành viên trong việc thực hiện hợp đồng dịch vụ;
+ Những nội dung phải có trong Điều lệ của Hợp tác xã.

Liên quan đến nội dung này việc cần có các quy định ràng buộc nghĩa vụ của Hợp tác xã trong việc cung cấp hàng hóa dịch vụ cho thành viên cũng như nghĩa vụ sử dụng dịch vụ, lao động của thành viên đối với Hợp tác xã là những quy định cần thiết để thể hiện tính đặc thù của Hợp tác xã, tránh trường hợp lợi dụng mô hình Hợp tác xã để được hưởng các ưu đãi nhưng thực chất lại hoạt động không khác gì doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc bắt buộc ký hợp đồng dịch vụ, bắt buộc quy định các nội dung này trong Điều lệ là quy định cứng nhắc và không hợp lý, bó buộc Hợp tác xã và thành viên…

4. Về bản chất của hợp tác xã

Luật Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã năm 2003 quy định chưa thật rõ hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã phải lấy lợi ích của xã viên là mục tiêu cho hoạt động và phát triển của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; chưa thể hiện thật rõ lợi ích của xã viên hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khi tham gia hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã là được hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã cung cấp sản phẩm, dịch vụ hoặc tạo việc làm có hiệu quả hơn so với xã viên đơn lẻ tự thực  hiện hoặc không thực hiện được; vai trò người chủ của xã viên trong việc quyết định các vấn đề cơ bản của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, như: xác định mục tiêu, tổ chức hoạt động, quản lý và điều hành hoạt động của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, còn mờ nhạt.

Luật quy định: hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân “có nhu cầu, lợi ích chung…” lập ra; các xã viên “giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống”, nhưng không quy định rõ mục tiêu của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã là phục vụ cộng đồng xã viên hay thị trường đại chúng, tức không quy định rõ việc hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã phải đáp ứng “nhu cầu, lợi ích chung” đó của xã viên; và do vậy, chưa làm rõ sự khác biệt về mục tiêu giữa tổ chức hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và tổ chức doanh nghiệp.

Luật giải thích khái niệm dịch vụ của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã đối với xã viên và mức độ sử dụng dịch vụ hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nhưng không quy định nghĩa vụ của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã phải cung cấp sản phẩm, dịch vụ, trước hết nhằm phục vụ hoạt động kinh tế, đời sống của xã viên. Luật chưa thể hiện sự ràng buộc trách nhiệm của xã viên trong việc góp vốn và chia sẻ rủi ro; thực tế vốn góp của xã viên còn mang tính hình thức, khi làm ăn thua lỗ, xã viên không liên đới chịu trách nhiệm.

So với Luật Hợp tác xã 2003, Luật Hợp tác xã 2012 xác định rõ ràng hơn bản chất của Hợp tác xã; khắc phục những khó khăn, tồn tại của Luật Hợp tác xã 2003. Điểm mới của Hợp tác xã 2012 còn thể chế hóa rõ hơn về bản chất, tổ chức của Hợp tác xã, để làm rõ sự khác biệt so với tổ chức doanh nghiệp, ở mục tiêu thành lập, quan hệ sở hữu, quan hệ kinh tế, quan hệ quản lý, và quan hệ phân phối trong Hợp tác xã. Hợp tác xã phải mang lại lợi ích cho thành viên thông qua đáp ứng nhu cầu chung về sản phẩm, dịch vụ, việc làm của thành viên là chủ sở hữu Hợp tác xã. Luật Hợp tác xã năm 2012 đã xác định rõ bản chất của hợp tác xã đó là “ hợp tác xã nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã”.

Theo Luật hợp tác xã năm 2012: Mục tiêu của Hợp tác xã là mang lại lợi ích cho thành viên; “phân phối của hợp tác xã chủ yếu theo mức độ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của thành viên; theo công sức lao động, phần còn lại chia theo vốn góp”. Bản chất của Hợp tác xã là phục vụ lợi ích của thành viên; còn bản chất của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận, phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp chia theo vốn góp. Vì vậy, Luật hợp tác xã năm 2012 bỏ quy định “hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp” so với Luật hợp tác xã năm 2003.

5. Về vấn đề hình thức góp vốn và số vốn góp

Quy định của Luật Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã năm 2003 về việc xã viên “cùng góp vốn, góp sức” là chưa rõ ràng, có thể dẫn đến cách hiểu khác nhau:

+ Các xã viên chỉ “góp vốn” mà không “góp sức“ - khi đó hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trở thành doanh nghiệp và xã viên thực chất chỉ là người góp vốn, cổ đông của doanh nghiệp, được chia lãi theo vốn góp.

+ Hoặc ngược lại: chỉ “góp sức” mà không “góp vốn” - khi đó xã viên về thực chất chỉ là người lao động làm thuê trong hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tương tự như người lao động trong doanh nghiệp nếu được trả lương; hoặc là hoạt động từ thiện cho tổ chức hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nếu tự nguyện và không được trả lương.

Với hai cách hiểu nêu trên, quy định pháp luật về hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hiện hành chưa làm rõ được bản chất của tổ chức hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, dẫn đến cách hiểu phổ biến hiện nay: tổ chức hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã là doanh nghiệp (theo quy định của Luật Doanh nghiệp).

Luật hợp tác xã năm 2012 Quy định mức góp vốn tối đa của thành viên khi tham gia hợp tác xã không quá 20% vốn điều lệ;  quy định tại điều 17 Luật hợp tác xã 2012

Luật hợp tác xã năm 2003 quy định vốn góp tối đa của xã viên (thành viên) không quá 30% vốn điều lệ, quy định tại điều 19 Luật Hợp tác xã 2003.

Cần phải xác định rõ góp vốn là nghĩa vụ bắt buộc đối với mọi thành viên khi tham gia vào Hợp tác xã chứ không phải xã viên có thể góp vốn hoặc góp sức. Điểm khác biệt là trong Luật Hợp tác xã 2003 không xác định góp sức là bắt buộc còn trong Luật Hợp tác xã 2012, ngoài việc góp vốn thì góp sức là nghĩa vụ bắt buộc đối với thành viên trong Hợp tác xã tạo việc làm.

6. Hội đồng quản trị, Giám đốc Hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã (Điều 35,38,39)

Luật hợp tác xã năm 2012 sử dụng khái niệm “Hội đồng quản trị” thay khái niệm “Ban quản trị”; “Chủ tịch hội đồng quản trị” thay khái niệm “Trưởng ban quản trị”. Hội đồng quản trị tối thiểu có 03 thành viên, tối đa có 15 thành viên. Khái niệm “Giám đốc” thay khái niệm “Chủ nhiệm”;

Ngoài khái niệm “Ban kiểm soát” bổ sung khái niệm “Kiểm soát viên”; hợp tác xã có 30 thành viên trở lên thì bầu Ban kiểm soát; Ban kiểm soát tối đa có 07 thành viên; nếu hợp tác xã có số lượng thành viên ít (dưới 30 thành viên) thì có thể chỉ bầu 01 kiểm soát viên quy định tại điều 39 Luật hợp tác xã 2012

Khái niệm “đăng ký hợp tác xã” thay khái niệm “đăng ký kinh doanh”. Ngoài ra còn có một số quy định liên quan các nội dung sửa đổi, bổ sung khác. Mô hình quản trị theo Luật Hợp tác xã 2012 là mô hình đơn nhất, không có sự phân biệt tùy theo trường hợp giữa quản trị và điều hành như trong Luật Hợp tác xã 2003;

+ Tên gọi của các cơ quan quản lý điều hành trong Hợp tác xã đã hoàn toàn thay đổi, không còn được gọi là Đại hội Xã viên, Ban quản trị mà sử dụng các tên gọi giống như các cơ quan trong cơ cấu tổ chức của Doanh nghiệp được quy định trong Luật doanh nghiệp 2005. Về nội dung này, tác giả cho rằng nỗ lực biến Hợp tác xã thành hoặc gần giống đến mức gây nhầm lẫn với các loại hình công ty là quy định không phù hợp và mâu thuẫn với chính mục đích của Luật hợp tác xã 2012 khi cố gắng để khẳng định Hợp tác xã không phải là Doanh nghiệp, không có hoạt động giống như Doanh nghiệp;

+ Người đại diện theo pháp luật của Hợp tác xã chỉ là chủ tịch Hội đồng quản trị thay vì trước đây theo Luật 2003 có thể là Chủ nhiệm hoặc trưởng ban quản trị tùy thuộc vào từng mô hình. Cách quy định này khá cứng nhắc và làm cho vai trò của Giám đốc/Tổng giám đốc trong Hợp tác xã sẽ khá mờ nhạt.

Cách đặt tên các cơ quan trong bộ máy quản lý của hợp tác xã cũng khá mâu thuẫn với những nội dung khác trong Luật Hợp tác xã 2012. Trong khi Luật Hợp tác xã 2012 đang cố gắng tách biệt giữa Doanh nghiệp và Hợp tác xã, khẳng định Hợp tác xã không phải là doanh nghiệp và cũng không hoạt động giống như doanh nghiệp. Tuy nhiên, chính cách đặt tên và cách cơ cấu tổ chức quản lý của Hợp tác xã theo Luật này lại làm cho Hợp tác xã “gần” hơn với mô hình quản trị của các công ty theo Luật doanh nghiệp.

Ngoài ra, Luật hợp tác xã 2012 còn có những điểm mới khác như Về các chính sách hỗ trợ, Luật Hợp tác xã 2012 mở rộng hơn phạm vi ưu đãi, hỗ trợ gắn với bản chất Hợp tác xã , mang lại lợi ích cho cộng đồng, chú trọng đối tượng thành viên là nông dân, người dân tộc. Theo đó, Chính phủ quy định chi tiết các ưu đãi, hỗ trợ đối với Hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp về đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng; giao đất, cho thuê đất để phục vụ hoạt động của Hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác xã theo quy định của pháp luật về đất đai; ưu đãi về tín dụng; vốn, giống khi gặp khó khăn do thiên tai, dịch bệnh; chế biến sản phẩm. Các quy định liên quan các nội dung sửa đổi, bổ sung khác như Thành lập và đăng ký Hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác xã; Tổ chức quản lý Hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác xã; Tài sản, tài chính của Hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác xã; Chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, giải thể, phá sản; Hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác xã; Tổ chức đại diện của Hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác xã…

Sự thay đổi này thực tế là với mong muốn nhằm khuyến khích và phát triển mô hình Hợp tác xã kiểu mới, đồng thời định hướng phát triển các hợp tác xã hiện có hoạt động theo đúng bản chất hợp tác xã.

Mô hình tổ chức hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã kiểu mới được xây dựng trong Luật Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã năm 2012 là tổ chức do các thành viên tự nguyện hợp tác với nhau nhằm tương trợ lẫn nhau, đáp ứng nhu cầu chung về sản phẩm, dịch vụ cho chính mình; hợp thành khu vực thứ 3 của nền kinh tế bên cạnh khu vực công và khu vực tư.

Luật Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã năm 2012 nhằm mục tiêu khuyến khích và phát triển mạnh mẽ mô hình hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã kiểu mới, đồng thời định hướng phát triển các hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hiện có hoạt động theo đúng bản chất hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; đưa khu vực hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nói riêng và thành phần kinh tế tập thể nói chung trở thành lực lượng to lớn, phát triển rộng khắp và có vị trí quan trọng trong nền kinh tế nước ta; bảo đảm quyền và lợi ích của hàng chục triệu hộ nông dân, hàng chục triệu người tiêu dùng, hộ kinh doanh cá thể. Mô hình tổ chức hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trong Luật Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã năm 2012 có khả năng thu hút số lượng lớn thành viên, gắn kết hoạt động và đời sống của họ cả về chiều ngang và chiều dọc, liên kết sản xuất cá thể của nông dân với các khâu nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, chế biến, tiêu thụ xuất khẩu, gắn kết “bốn nhà” mà chính họ là người chủ sở hữu. Tổ chức hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã phát triển sâu rộng sẽ tác động tích cực toàn diện cả về kinh tế, chính trị, và văn hóa - xã hội.

--------------------------------------------------------------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
-  Luật Hợp tác xã 2003.
-  Luật Hợp tác xã 2012.
- Thuvienphapluat.vn
- www.dhluathn.com
Trích nguồn:
Tác giả: Lê Ninh (tổng hợp)
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202