Tin Kinh tế- xã hội  > Kinh tế thế giới > ASEAN

Hài hòa hóa pháp luật của các nước thành viên Asean trong lĩnh vực kinh tế

Cập nhật lúc: 26/06/2015 12:48:48 PM

Trong khu vực ASEAN, vấn đề hài hoà hoá pháp luật đã được bàn đến khá nhiều, tập trung chủ yếu vào việc làm cho các khái niệm pháp luật của các nước ASEAN trong một số lĩnh vực cụ thể có thể xích lại gần nhau hơn. Việc hài hòa hóa pháp luật tạo cơ sở cho việc hình thành thể chế liên kết khu vực trong môi trường mà chính sách và pháp luật của các quốc gia vốn đa dạng và khác biệt trong quá trình liên kết. Việc thực hiện hài hòa hóa chính sách cho thấy lợi thế mối quan hệ tương hỗ giữa các quốc gia thành viện nhằm duy trì thường xuyên quá trình liên kết.


Các thoả thuận hợp tác kinh tế của ASEAN trong các lĩnh vực kinh tế bao gồm hợp tác thương mại hoá, thương mại dịch vụ, hợp tác về thuế quan, về tài chính, về đầu tư, sở hữu trí tuệ và giải quyết tranh chấp, v.v.. đã thực sự là tiền đề cho quá trình hài hoà hoá pháp luật trong mọi lĩnh vực kinh tế trong khu vực ASEAN. Trên cơ sở đó, các nước ASEAN có khả năng hội nhập quốc tế mạnh mẽ khi hầu hết các nước đều là thành viên WTO cũng như thành viên các diễn đàn quốc tế khác.


Một số hiệp định và thỏa thuận hợp tác kinh tế quan trọng của ASEAN gồm:


Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA được ký kết tháng 2/2009 là hiệp định toàn diện đầu tiên của ASEAN điều chỉnh toàn bộ thương mại hàng hóa trong nội khối và được xây dựng trên cơ sở tổng hợp các cam kết đã được thống nhất trong CEPT/AFTA cùng các hiệp định, nghị định thư có liên quan. Nguyên tắc xây dựng cam kết trong ATIGA là các nước ASEAN phải dành cho nhau mức ưu đãi tương đương hoặc thuận lợi hơn mức ưu đãi dành cho các nước đối tác trong các Thỏa thuận thương mại tự do (FTA) mà ASEAN là một bên của thỏa thuận.


Hiệp định khung ASEAN về Dịch vụ (AFAS) được ký kết ngày 15/12/1995 với mục đích thúc đẩy hợp tác trong nội bộ khu vực ASEAN nhằm đảm bảo một khuôn khổ mậu dịch tự do cho thương mại dịch vụ, đồng thời thể hiện mong muốn huy động các khu vực tư nhân trong quá trình thực hiện phát triển kinh tế của các nước thành viên ASEAN nhằm cải thiện hiệu quả và nâng cao khả năng cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ của các nước.


Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA) được kí kết vào ngày 26/02/2009, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 29/3/2012 với mục đích thúc đẩy tiến trình xây dựng một khu vực đầu tư tự do, mở cửa, minh bạch và hội nhập trong ASEAN nhằm đạt được mục tiêu thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) vào năm 2015.


Hiệp định khung ASEAN về Hợp tác Sở hữu trí tuệ được ký kết ngày 15/12/1995 nhằm mục tiêu thúc đẩy sự hợp tác chặt chẽ hơn giữa các nước thành viên ASEAN trong lĩnh vực cơ hữu trí tuệ và các lĩnh vực có liên quan nhằm đạt được mục tiêu hiện thực hóa Khu vực thương mại tự do ASEAN và sự thịnh vượng của các nước thành viên. 


Các cơ chế hoán đối tiền tệ: Hoạt động hoán đổi tiền tệ giữa các nước ASEAN được thực hiện thông qua Quỹ Hoán đổi Tiền tệ ASEAN và hệ thống hoán đổi đa phương giữa các nền kinh tế Đông Á trong khuôn khổ Thỏa thuận Đa phương hóa Sáng kiến Chiang Mai (Chiang Mai Initiative Multilateralisation - CMIM). Thỏa thuận Hoán đổi tiền tệ ASEAN (ASEAN Swap Agreement - ASA) được hình thành năm 1997 với sự tham gia của các nước thành viên gốc của ASEAN là Thái Lan, Philippines, Singapore, Indonesia và Malaysia. Đến năm 1999, Quỹ Hoán đổi Tiền tệ được mở rộng với các nước thành viên mới của ASEAN là Việt Nam, Lào, Campuchia và Myanmar. Quỹ này cho phép các nước thành viên vay mượn bằng đồng USD, yên Nhật hay Euro. Nghĩa vụ đóng góp được xác định cho từng nước và mức tối đa mà mỗi nước có thể vay sẽ không vượt quá hai lần mức đóng góp của mỗi nước. Tuy nhiên, nguồn vốn của ASA tương đối nhỏ, khoảng 2,5 tỷ USD vào năm 2005, hạn chế đáng kể khả năng của ASA trong việc hỗ trợ các nền kinh tế thành viên.


Hiệp định Hải quan ASEAN (mới) được ký kết ngày 30/3/2012 và được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định của Công ước Kyoto sửa đổi, theo đó các quy định mang tính chất về nghiệp vụ, thủ tục và quy trình hải quan, ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong nghiệp vụ hải quan và kiểm soát hải quan, hỗ trợ hành chính lẫn nhau đã được tổng hợp và đưa ra cụ thể tại Hiệp định.


Nghị định thư về Cơ chế giải quyết tranh chấp: ký kết ngày 20/11/1996 nhằm hướng đến việc tìm ra những giải pháp hợp lý để giải quyết các vướng mắc nảy sinh trong hợp tác kinh tế.


Tuy nhiên, để giúp cho hệ thống pháp luật của các nước thành viên trong lĩnh vực kinh tế thực sự được hài hòa, các nước cần phải lồng ghép và thực thi các luật lệ chung của ASEAN vào hệ thống luật pháp quốc gia, trong bối cảnh luật quốc gia của các nước có sự khác biệt đáng kể. Ngoài việc trở thành tài sản văn hóa mới có giá trị cho các nước ASEAN, việc hài hòa hóa luật pháp quốc gia với luật pháp khu vực còn tạo điều kiện thuận lợi cho hội nhập kinh tế khu vực, sự phối hợp tích cực và hỗ trợ lẫn nhau giữa các nước thành viên ASEAN. Bên cạnh đó, nó cũng giúp củng cố sự phát triển của các quy tắc pháp lý hiện tại và tạo ra nền tảng cho việc hội nhập giữa luật pháp quốc gia và khu vực. Các quy tắc thống nhất có thể đóng vai trò là hình mẫu về pháp lý thúc đẩy các nhà lập pháp nỗ lực cải cách hệ thống pháp luât. Nó cũng tạo điều kiện cho các nước thành viên ASEAN hiện đại hóa hệ thống pháp lý bằng các sử dụng các tiêu chuẩn chung của khu vực.


Đối với việc thực hiện các hiệp định quốc tế và khu vực, có hai cách tiếp cận là cách tiếp cận “cứng” và cách tiếp cận “mềm”. Cách tiếp cận cứng là các hiệp định này có tính chính xác và ràng buộc về mặt pháp lý cao và các nước thành viên cần phải tuân thủ. Còn theo cách tiếp cận “mềm”, các hiệp định này có tính chính xác và mức độ ràng buộc về mặt pháp lý thấp hơn.


Mặc dù Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) sẵn sàng chấp nhận cơ chế “cai trị bằng pháp luật”, nhưng khu vực này vẫn chậm chạp trong việc áp dụng các khung khổ pháp lý mang tính ràng buộc để điều chỉnh mối quan hệ giữa các nước thành viên. Thay vào đó, ASEAN ưu tiên hoạt động trên cơ sở sự hiểu biết lẫn nhau và các thỏa thuận phi chính thức. Cách tiếp cận này của ASEAN trái ngược so với cơ chế luật hóa chính thức của phần lớn các thể chế quốc tế ở phương Tây và thể hiện trong các quy trình và cấu trúc của ASEAN. Đây được xem là chìa khóa cho thành công – hoặc ít nhất là sự tồn tại – của ASEAN.


Tuy nhiên, việc ASEAN có xu hướng không sử dụng cách tiếp cận “cứng” về cơ chế pháp lý cũng đặt ra nhiều câu hỏi trong bối cảnh mức độ trao đổi thương mại và sự phụ thuộc vào ngoại thương và đầu tư trong khu vực đang ngày càng tăng lên. Trong bối cảnh đó, nhu cầu việc tạo ra một khung khổ pháp lý vững chắc cho thương mại đầu tư trong khu vực là rất cấp thiết (nhưng hiện vẫn chưa có). Việc hài hòa hóa các quy định pháp lý “có thể giúp loại bỏ sự bất ổn, giảm chi phí, tăng cường lòng tin kinh doanh, và cuối cùng là tăng cường các mục tiêu xây dựng cộng đồng ASEAN”.


Con đường để đi đến thống nhất hài hòa hóa hệ thống pháp lý đối với ASEAN là một con đường đầy cạm bẫy, do sự khác biệt về văn hóa, chính trị và xã hội của các nước trong khu vực. Trong khi Singapore là nước có thu nhập bình quân đầu người cao vào hàng các nước công nghiệp pháp triển thì Lào thuộc các nước có thu nhập thấp. Thu nhập bình quân đầu người năm 2009 của Malaysia là 7.030 USD, Thái Lan là 3.893 USD, cao vượt trội so với Việt Nam (1.113 USD), Campuchia (706 USD).  Về cấu trúc nền kinh tế, trong khi ASEAN- 6 có cơ cấu công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn, nông nghiệp chỉ chiếm 16% GDP thì tỷ trọng nông nghiệp của Myanmar, Lào và Campuchia lên đến 50%. Tình trạng chênh lệch về phát triển tác động bất lợi tới hợp tác xây dựng chính sách chung về thương mại, đầu tư, đặc biệt về tài chính và tiền tệ. Hơn nữa, các hệ thống pháp lý của các nước thành viên rất khác nhau, từ các hệ thống luật lệ chung của Bruinei, Malaysia và Singapore cho tới các hệ thống luật dân sự như Indonesia, và hệ thống luật lai tạp của cả Thái Lan và Philipin. Do các nước đều theo đổi những mục tiêu riêng và có các thông lệ về pháp lý rất khác nhau nên việc hài hòa hóa các luật lệ của quốc gia sẽ rất khó khăn. Do vậy, ASEAN khó có thể theo đuổi cách tiếp cận “cứng” như của EU.  Con đường phù hợp nhất đối với ASEAN trong việc hài hòa hóa pháp luật đó là việc các nước đồng ý với nhau về một số các mục tiêu và mục đích nhất định, và mỗi nước đều có quyền tự do điều chỉnh hệ thống pháp lý trong nước để thực hiện các mục tiêu đã lựa chọn.


Với mục tiêu là tạo ra một nền kinh tế hội nhập vào cuối năm 2015, cho tới nay ASEAN vẫn chỉ thực hiện được những bước tiến chậm chạp nhằm hài hòa hóa hệ thống pháp lý trong một số lĩnh vực như thương mại điện tử. Để có thể thực hiện hài hòa hóa hệ thống pháp lý, dù là theo cách tiếp cận “cứng” hay “mềm”, các nước thành viên cần phải tăng cường cơ chế thực thi trong nước, sẵn sàng thực hiện các cải cách cơ cấu và luật pháp trong nước cho phù hợp với các khung khổ pháp lý chung của khu vực./.

Trích nguồn:
Tác giả: NCV. Nguyễn Đoan Trang
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202