Tin Kinh tế- xã hội  > Doanh nghiệp

Những rào cản phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam

Cập nhật lúc: 03/11/2014 09:50:28 AM

Khâu yếu nhất của nền công nghiệp

Bộ Công Thương vừa ra Quyết định 9028 phê duyệt Quy hoạch mới về công nghiệp hỗ trợ (CNHT). Ba lĩnh vực chủ yếu được tập trung là linh kiện phụ tùng, công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may và hỗ trợ công nghiệp công nghệ cao. Theo đó, đến năm 2020, Việt Nam sẽ có 1.000 doanh nghiệp đủ năng lực cung ứng các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, chiếm 11% giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp. Các sản phẩm này sẽ đáp ứng được 45% nhu cầu thiết yếu cho sản xuất trong nước, xuất khẩu 25% giá trị sản xuất công nghiệp. Đến năm 2030, sản phẩm công nghiệp hỗ trợ made in Vietnam sẽ đáp ứng cho 70% nhu cầu trong nước. Năm 2020, Việt Nam sẽ đáp ứng 60% nhu cầu linh kiện phụ tùng kim loại, nhựa - cao su, điện - điện tử, 65% nhu cầu nguyên phụ liệu hỗ trợ ngành dệt may, 75-80% nhu cầu ngành da giày. Mục tiêu lớn nhất của Quy hoạch này là đảm bảo đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp.

Tuy nhiên, nhìn vào thực trạng của ngành CNHT mới thấy chúng ta còn ở rất xa mục tiêu đề ra. Theo số liệu của Viện Chiến lược công nghiệp (Bộ Công Thương), chúng ta có khoảng 500 doanh nghiệp trong lĩnh vực chế tạo thì chỉ 200 doanh nghiệp trong nước đủ trình độ cung ứng cho nước ngoài nhưng cũng chủ yếu tập trung vào lĩnh vực xe máy và điện tử, nhiều sản phẩm không đạt mục tiêu đề ra. Trong đó, công nghiệp ôtô đã từng đặt mục tiêu 2010-2020 nội địa hóa 60% nhưng hiện chỉ đạt 7-8%. Ngành dệt may dự kiến nâng tỉ lệ nội địa hóa lên 60% vào năm 2015 nhưng hiện vẫn phải nhập khẩu 99% bông, 60% sợi, 70% vải.

Việt Nam đã có hai khu CNHT ở Vũng Tàu và Hải Phòng trong chương trình hợp tác với Nhật Bản, nhưng sau 13 năm, vẫn chưa định hình được những sản phẩm cần tập trung xây dựng trên quy mô cả nước. Rốt cục, phần lớn sản phẩm CNHT vẫn là do chính doanh nghiệp FDI cung cấp.

Ông Hirotaka Yasuzumi, Giám đốc điều hành văn phòng Tổ chức Xúc tiến Mậu dịch Nhật Bản JETRO tại TP.HCM cho biết đến năm 2013, tổng số vốn đầu tư trực tiếp của các DN Nhật được cấp phép tại Việt Nam là 22,4 tỉ USD, chiếm 26% với 500 dự án. Con số cho thấy, Nhật Bản vẫn là nhà đầu tư lớn nhất, hoạt động của các công ty Nhật Bản tại Việt Nam vẫn rất sôi động. Tuy nhiên khó khăn của các DN Nhật là tình trạng thiếu hụt CNHT tại thị trường nội địa. Khảo sát của JETRO năm 2013 cho thấy tỷ lệ cung cấp nội địa cho các công ty Nhật chưa đến 32% tại Việt Nam so với 64% tại Trung Quốc và 53% tại Thái Lan. Mười năm qua, JETRO đã nỗ lực nâng cao ngành này thông qua các buổi trao đổi thương mại và triển lãm về CNHT song vẫn chưa được cải thiện đáng kể.

Ông Bùi Quang Hải, đại diện Hội Cơ khí TP.HCM (HAME), chia sẻ: DN chế tạo Việt Nam chỉ đáp ứng 11% nhu cầu của các công ty Nhật tại Việt Nam. Trong vài năm gần đây, các sản phẩm điện tử, máy tính, điện thoại của Việt Nam xuất khẩu đạt kim ngạch cao và tăng mạnh đến hai con số, nhưng đều là sản phẩm đến từ các DN FDI. Họ nhập khẩu tới 58% tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam, tương đương 40 tỉ USD sản phẩm công nghệ chế tạo, riêng linh kiện điện thoại gần 20 tỉ USD. Nguồn nhập khẩu nhiều nhất là Trung Quốc. Nhiều DN thừa nhận đang trong tình trạng “làm công” vì phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu từ nước ngoài. “Hiện nay chúng ta đang đứng trước những cơ hội từ việc hợp tác với Nhật Bản xây dựng chiến lược hợp tác công nghiệp Việt Nam - Nhật Bản đến năm 2020 và tầm nhìn 2030. Trong đó, phát triển 6 ngành công nghiệp ưu tiên là điện tử, máy nông nghiệp, chế biến nông thủy sản, môi trường và tiết kiệm năng lượng, đóng tàu, sản xuất phụ tùng ô tô”, ông Hải sốt ruột.

Còn ông Hoàng Minh Trí - giám đốc công ty TNHH 4P (Một công ty chuyên sản xuất và lắp ráp vỉ mạch và sản phẩm điện tử) nhận định: “Đứng từ góc độ một doanh nghiệp hoạt động trong ngành, tôi nhận thấy công nghiệp hỗ trợ hiện nay vẫn đang còn là khâu rất yếu của công nghiệp nước ta. Trong lĩnh vực điện tử, hiện đa số các nhà sản xuất có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam vẫn phải nhập khẩu linh kiện là chủ yếu. Những nhà cung cấp linh kiện, bán sản phẩm chủ yếu vẫn là những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và vẫn đang còn khoảng cách tiêu chuẩn chất lượng khá lớn giữa các nhà cung cấp linh kiện trong và ngoài nước. Trong thời gian qua, nhà nước cũng đã có định hướng ưu đãi cho các doanh nghiệp hỗ trợ tuy nhiên những ưu đãi này chưa rõ ràng và đang dưới hình thức cào bằng. Đối tượng được hưởng nhiều ưu đãi nhất lại không phải là doanh nghiệp nội mà chiếm tới 70% là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Trong giai đoạn đầu của chính sách thu hút đầu tư nước ngoài với bối cảnh Việt nam chưa gia nhập WTO, AFTA chính sách bảo hộ mậu dịch còn lớn, khi đó các doanh nghiệp nước ngoài với mục tiêu nhắm tới là mở rộng thị trường tại Việt nam nên chỉ đầu tư vào lắp ráp sản phẩm tiêu thụ ở thị trường trong nước với số vốn không lớn chỉ cần từ vài đến vài chục triệu USD và thời gian cũng không dài, từ 10 đến 15 năm với hình thức liên doanh để hưởng các ưu đãi về bảo vệ sản xuất của Việt Nam. Hệ quả  là hầu như không có doanh nghiệp có vốn nước ngoài nào đầu tư thực sự cho công nghệ cao hoặc chuyển giao công nghệ nên chúng ta chỉ thu được một số kinh nghiệm về tổ chức sản xuất và quản lý chất lượng. Tuy nhiên với tình hình hiện nay, sau khi Việt nam đã gia nhập WTO, AFTA.. những doanh nghiệp FDI còn trụ lại hoặc đầu tư mới, họ thực sự mong muốn tìm cơ hội đầu tư lâu dài và hợp tác với Việt nam, nhưng lại gặp phải những trở lực rất lớn đó là ngành công nghiệp phụ trợ của Việt nam quá yếu và mong manh dẫn đến mặc dù các doanh nghiệp FDI này đầu tư vào Việt nam nhưng vẫn phải nhập khẩu vật tư linh kiện từ nước ngoài đồng thời phải kéo theo những nhà lắp ráp, sản xuất bán thành phẩm cho họ từ chính quốc sang điều này dẫn đến giá trị gia tăng do các công ty Việt nam tạo ra không đáng là bao. Trong khi đó những công việc này, theo tôi các công ty trong nước hoàn toàn có thể làm được”.

3 điểm yếu nhất của CNHT

Giáo sư Trần Văn Thọ là giáo sư kinh tế tại trường Đại học Waseda, Tokyo, Nhật Bản chỉ ra 3 điểm yếu nhất của ngành CNHT Việt Nam như sau:

Thứ nhất, các ngành phụ trợ này (chủ yếu do doanh nghiệp nhà nước sản xuất) cung cấp những sản phẩm có chất lượng kém và giá thành cao (vì công nghệ lạc hậu, vì quản lý kém...) nên chỉ tiêu thụ được trong nội bộ các doanh nghiệp nhà nước. Nhưng cũng vì dùng những sản phẩm phụ trợ này mà các sản phẩm lắp ráp, các loại máy móc hoàn thành tại các công ty nhà nước cũng không có sức cạnh tranh. Đây là một sự liên kết kém hiệu suất và bó chân lẫn nhau trong nội bộ các doanh nghiệp nhà nước. Tại các nước ASEAN khác và tại Trung Quốc, có sự liên kết (linkage) hiệu suất giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất các sản phẩm phụ trợ với các doanh nghiệp lớn có vốn đầu tư của nước ngoài, và công nghệ, tri thức quản lý được chuyển giao từ doanh nghiệp lớn đến doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Thứ hai, các ngành phụ trợ quá yếu không hấp dẫn các công ty đa quốc gia đầu tư trực tiếp sản xuất tại Việt Nam các loại hàng điện tử gia dụng, các sản phẩm của công nghệ thông tin phần cứng như máy tính cá nhân, điện thoại di động, các loại xe hơi, xe máy, v.v., nói chung là các loại máy móc, các ngành cơ khí. Các mặt hàng này thường có cả hàng trăm hoặc hàng ngàn bộ phận, linh kiện ở nhiều tầng lớp, từ những loại thông thường đơn giản đến những loại có công nghệ rất cao. Đối với các công ty nước ngoài đầu tư vào các ngành sản xuất các loại máy móc, tỷ lệ nội địa hoá càng cao càng có lợi. Điểm này khác với nhận thức của nhiều người Việt Nam, kể cả các nhà hoạch định chính sách. Việt Nam có khuynh hướng cho rằng các công ty đa quốc gia không muốn tăng tỷ lệ nội địa hoá để đưa các sản phẩm trung gian và bộ phận, linh kiện từ nước mình tới . Điều tra của JETRO và nhiều cơ quan khác, cũng như các cuộc tiếp xúc giữa tôi với các giám đốc doanh nghiệp có vốn nước ngoài tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy hiện thực thì ngược lại. Dĩ nhiên những bộ phận, linh kiện có công nghệ rất cao thông thường được nhập khẩu từ Nhật Bản hoặc những nơi có đủ điều kiện về công nghệ và kỹ thuật. Trên thực tế, phí tổn về linh kiện, bộ phận và các sản phẩm trung gian trong những sản phẩm thuộc các ngành sản xuất máy móc chiếm tới hơn 80% giá thành, lao động chỉ chiếm từ 5 đến 10%, do đó khả năng nội địa hoá có tính chất quyết định đến thành quả kinh doanh của doanh nghiệp. Từ thực tế này, có thể nói các công ty đa quốc gia chậm tăng tỷ lệ nội địa vì năng lực cung cấp trong nước quá kém không đáp ứng yêu cầu về chất lượng và giá thành. Do đó chừng nào các ngành phụ trợ sẵn có chưa được cải thiện đồng loạt và chừng nào nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa của nước ngoài chưa đến đầu tư ồ ạt thì FDI của các công ty lớn không thể tăng hơn. Mặt khác, sau năm 2006, trong khuôn khổ AFTA, những công ty này có thể sẽ chuyển cơ sở sản xuất sang các nước ASEAN khác để tận dụng các ngành phụ trợ đã có tại đó.

Thứ ba, hiện nay những ngành sản xuất các loại máy móc như đồ điện gia dụng, nhiều ngành thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin phần cứng như máy điện thoại di động... và một bộ phận của nhóm các ngành có công nghệ cao như xe hơi, máy tính... có nhu cầu ngày càng lớn trên thế giới. Mặt khác, công nghệ cũng dễ lan nhanh từ nước này sang nước khác nên những nước có nguồn lực lao động dồi dào, khéo tay và tiền lương rẻ sẽ dễ trở thành những cứ điểm sản xuất có sức cạnh tranh lớn. Việt Nam rất có triển vọng cạnh tranh được trong lĩnh vực này nhưng vì hai lý do nói ở trên, Việt Nam chưa trở thành một trong những nơi sản xuất chính tại châu Á. Trong khoảng 15 năm qua, các cứ điểm sản xuất của các ngành này chuyển nhanh từ Nhật Bản sang Hàn Quốc, Đài Loan, Xingapo, sau đó sang Malaixia và Thái Lan, và gần đây sang Inđônêxia và Trung Quốc. Khuynh hướng đó trong ngành điện, điện tử, thể hiện sự thay đổi trong kim ngạch sản xuất đồ điện gia dụng (thành phẩm lắp ráp cuối cùng, phần trung nguồn trong chuỗi giá trị) và phụ tùng điện tử (sản phẩm của công nghiệp phụ trợ, ở thượng nguồn trong chuỗi giá trị). Trong thập niên 1990, Nhật Bản và các nền kinh tế công nghiệp hoá mới (NIEs-4) giảm sản xuất ở phần trung nguồn nhưng tăng kim ngạch sản xuất của công nghiệp phụ trợ. Đáng chú ý là khuynh hướng tại Trung Quốc và các nước ASEAN, nhất là tại Malaixia, Thái Lan và Philíppin, sản xuất tăng nhanh trong cả hai giai đoạn đồ điện gia dụng và phụ tùng điện tử. Phụ tùng điện tử gồm rất nhiều chủng loại mặt hàng, có loại có hàm lượng công nghệ cao nên Nhật và NIEs còn duy trì sức cạnh tranh trong nhiều mặt hàng và triển khai phân công hàng ngang với các nước ASEAN. Rất tiếc là làn sóng công nghiệp này chưa lan rộng đến Việt Nam,  kim ngạch sản xuất của Việt Nam còn quá nhỏ.

Sự chồng chéo của các bộ ngành

Những động thái rốt ráo gần đây của Chính phủ và các bộ ngành để thúc đẩy CNHT phát triển cho thấy Nhà nước đang rất quan tâm đến ngành. Tuy nhiên, một chuyên gia trong lĩnh vực này than phiền, cách tiếp cận của các bộ dường như theo kiểu mạnh ai nấy làm, chồng chéo và trùng lặp.

Hồi đầu năm nay, Bộ KH-ĐT đã chủ động soạn đề án "Cơ chế chính sách ưu đãi cho công nghiệp hỗ trợ phát triển" gửi lên Chính phủ. Song, phần lớn, bản đề án rất giống với các chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng, đất đai..., giống cả về số liệu nghiên cứu của Quy hoạch công nghiệp hỗ trợ do Viện chiến lược công nghiệp, Bộ Công Thương soạn thảo, khi đó còn là dự thảo. Trong khi đó, Bộ Công Thương được Chính phủ giao nhiệm vụ phải hoàn thành sớm Nghị định về công nghiệp hỗ trợ để ban hành trong năm nay. Song, phần lớn nội dung của nghị định này, xét cho cùng, vẫn là câu chuyện ưu đãi cho doanh nghiệp đầu tư phát triển trong ngành này, đặt biệt là các đề xuất xây dựng Quỹ lên tới 30.000 tỷ đồng. Đó cũng là lý do mà hai tuần trước, Văn phòng Chính phủ đã phải ra thông báo "bác" đề án của Bộ KH-ĐT vì sự trùng lặp lãng phí.

Gần đây nhất, Cục Đầu tư nước ngoài cho hay đã có chương trình hợp tác riêng với Samsung điện tử về phát triển CNHT hỗ trợ từ tháng 9/2014 đến hết năm 2015. Ông Đỗ Nhất Hoàng, Cục trưởng còn thông báo dự kiến sẽ rà soát khoảng 800 doanh nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực. Thế nhưng, lãnh đạo của Bộ Công Thương lại không hề hay biết về chương trình này. Sự hợp tác trên cũng gần như không liên quan gì đến chương trình hợp tác về chuyển giao công nghệ với doanh nghiệp Hàn Quốc hiện đang được tài trợ bởi Bộ Năng lượng, công nghiệp và thương mại Hàn Quốc.

Sự chồng chéo của các Bộ khiến cho chính Tập đoàn Samsung cũng băn khoăn khó xử. Một đại diện ở tập đoàn này đã từng chia sẻ với quan chức Việt Nam rằng, không biết sẽ cần phải tập trung nguồn lực để hợp tác với đầu mối bên nào của Việt Nam?

Mới đây, trong một lần làm việc với đoàn chuyên gia công nghiệp hỗ trợ của Hàn Quốc, do Bộ Công Thương tổ chức, TGĐ công ty Nhựa Hà Nội Bùi Thành Nam còn phải cáo lỗi không tiếp lâu được, vì bận tiếp thêm đoàn của Nhật Bản, theo đầu mối của Bộ KH-ĐT tổ chức.

Một chiến dịch thúc đẩy CNHT quốc gia chồng chéo như vậy chắc chắn sẽ dễ dẫn đến sự lãng phí nguồn lực. Bởi, xét cho cùng, đề án, chương trình của bộ nào đưa ra cũng phải lấy kinh phí từ ngân sách Nhà nước.

Tài liệu tham khảo:
1. Công nghiệp hỗ trợ: Hết bỏ rơi, lại tranh nhau làm, Theo Vietnamnet.
2. Phát triển công nghiệp phụ trợ: Mũi đột phá chiến lược, Giáo sư Trần Văn Thọ.
3. Công nghiệp hỗ trợ, chớp cơ hội hoặc chết, Theo Thanh Niên.
4. Hướng đi nào cho ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam?, Theo VTC.

 

Trích nguồn:NCSEIF
Tác giả: La Hoàn (tổng hợp)
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202