Tin Kinh tế- xã hội  > Thị trường, giá cả

Giải pháp cho thực trạng tín dụng tăng trưởng thấp

Cập nhật lúc: 08/09/2014 10:23:27 AM

Theo thông báo của Ngân hàng nhà nước (NHNN), đến ngày 31/7/2014, tín dụng toàn hệ thống các TCTD đối với nền kinh tế tăng 3,68% so với cuối năm 2013, tương đối thấp so với tăng trưởng tín dụng của cùng kỳ năm trước (4,48%) và chỉ mới đạt chưa đến một phần ba so với chỉ tiêu kế hoạch cả năm, từ 12% đến 14%. Như vậy, tính đến tại thời điểm này, để đạt được mục tiêu tăng trưởng tín dụng cả năm thì dư nợ toàn hệ thống sẽ phải tăng khoảng gần 2%/tháng trong những tháng cuối của năm, tương đương lượng vốn toàn nền kinh tế phải hấp thụ thêm là 289.369 tỷ đồng. Điều này rất khó có thể đạt được bởi nếu nhìn vào tốc độ tăng trưởng trong những tháng đầu năm vừa qua, trung bình mỗi tháng dư nợ tín dụng chỉ tăng khoảng 0,5%/tháng. Ngay cả nếu có tính đến yếu tố quy luật tín dụng thường tăng mạnh vào những tháng cuối của năm thì trong bối cảnh hiện tại cũng khó có thể đạt tăng trưởng tín dụng cả năm ít nhất là 12%. Việc tín dụng ở mức thấp sẽ có những ảnh hưởng không tốt tới nền kinh tế ở một khía cạnh: i) Đầu tiên sẽ tác động làm giảm sút vốn đầu tư tư nhân qua đó ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế bởi khu vực này đóng góp vào GDP tới 60%; ii) Tăng trưởng tín dụng ở mức thấp cũng khiến cho lợi nhuận ngân hàng khó đạt được kế hoạch do vẫn phải hạ lãi suất, cơ cấu lại nợ và nguồn thu từ tín dụng chiếm đến hơn 80% tổng lợi nhuận ngân hàng; iii)  tiến trình tái cơ cấu ngành nghề, các lĩnh vực trong nền kinh tế sẽ khó khăn hơn do đồng vốn đưa đến những chỗ cần còn khiêm tốn; iiv) ngoài ra, khi tăng trưởng dụng ở mức thấp, tỷ lệ nợ xấu không những khó giảm mà còn có thể tăng lên, bởi vì dư nợ thực tăng thấp khiến tỷ lệ nợ xấu so với tổng dư nợ không thể giảm. Chính vì vậy, kích thích tăng trưởng tín dụng hiện tại là một trong những vấn đề Chính phủ quan tâm nhất hiện nay.

 

Tình trạng tăng tín dụng thấp đã kéo dài kể từ năm 2011 trở lại đây. Tăng trưởng tín dụng đã giảm dần từ 14,4% năm 2011 xuống chỉ còn 8,85% năm 2012. Nếu năm 2012 được coi là năm thành công của chính phủ trong việc điều hành chính sách tiền tệ đạt được mục tiêu kiểm soát lạm phát từ 18,13% trong năm 2011 xuống chỉ còn 6,81% trong năm 2012 và 6,06% trong năm 2013 thì con số tăng trưởng dư nợ xuống thấp ở mức 8,85% trong năm 2012 và vẫn còn thấp kéo dài cho đến hiện tại lại là một điểm không thành công trong điều chính sách, không đáp ứng mục tiêu khơi thông tín dụng.



Mặc dù trong thời gian vừa qua, NHNN cũng đã cố gắng đưa ra nhiều biện pháp kích thích tăng trưởng tín dụng thông qua ổn định tỷ giá và thúc đẩy các ngân hàng thương mại tăng cường khả năng cho vay tín chấp (văn bản 5342 của  NHNN). Tuy nhiên, ngay cả khi gia tăng tín dụng ngoại tệ ở mức cao cũng khó kéo tổng tín dụng lên cao khi tăng trưởng tín dụng nội địa ì ạch bởi tỷ trọng dư nợ ngoại tệ trong tổng dư nợ chỉ mới ở mức khiêm tốn 15%. Còn với hình thức cho vay tín chấp thông qua xếp hạng tín dụng doanh nghiệp, các ngân hàng vẫn tỏ ra khá thận trọng bởi nỗi lo nợ xấu. Cho đến thời điểm hiện tại, kích thích tăng trưởng tín dụng vẫn là bài toán khó đối với các nhà làm chính sách.

 

Theo các chuyên gia nhận định, nguyên nhân chính dẫn tới dẫn tới tình trạng tín dụng tăng thấp là do sức cầu của nền kinh tế còn yếu, xử lý nợ xấu chậm và rào cản lãi suất. Trong đó, sức cầu yếu vẫn là nguyên nhân cốt lõi khiến tín dụng tăng chậm. Mặc dù tổng mức hàng hóa bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng luôn tăng cao hơn cùng kì năm 2013 nhưng mức cải thiện không lớn. Trong khi đó, khối lượng vận chuyển hàng hóa trong 7 tháng/2014 vẫn tăng thấp hơn so với cùng kì (4,8% so với 13,7%). Doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, nhất là trong khâu tiêu thụ sản phẩm. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, số doanh nghiệp giải thể hoặc tạm ngừng hoạt động trong 7 tháng đầu năm vẫn tăng 9,8% so cùng kì 2013. Trước bổi cảnh này, các doanh nghiệp lại càng trở nên thận trọng trong việc vay vốn mở rộng sản xuất kinh doanh.

 

Nợ xấu cũng gây cản trở tăng trưởng tín dụng. Quá trình xử lý nợ xấu vẫn chưa đạt được kết quả khả quan. Từ tháng 10-2013 đến nay, Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng (VAMC) đã mua được trên 50.000 tỷ đồng nợ xấu từ các tổ chức tín dụng, nhưng tiến trình này đang chậm lại do những khó khăn về xử lý nợ xấu sau khi mua. Trong bối cảnh đó, các tổ chức tín dụng e ngại nguy cơ “tái nợ xấu” nên họ dồn nguồn vốn vào kênh an toàn hơn bằng cách mua trái phiếu chính phủ, lãi suất thấp nhưng không có rủi ro cao thay vì tăng cấp tín dụng cho doanh nghiệp. Theo thống kê của nhóm nghiên cứu Ngân hàng Đầu tư - Phát triển Việt Nam (BIDV), trong 6 tháng đầu năm các tổ chức tín dụng đã mua khoảng 200.000 tỷ đồng trái phiếu chính phủ và tín phiếu kho bạc nhà nước.

 

Bên cạnh đó, lãi suất cho vay của ngân hàng vẫn còn tương đối cao cũng hạn chế khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp. So với các nước trong khu vực, lãi suất cho vay thường dao động ở mức trên dưới 5%/năm , thấp hơn nhiều so với lãi suất cho vay bình quân 10,08%/năm của Việt Nam tính tại thời điểm tháng 7/2014. Mặc dù mặt bằng lãi suất huy động và cho vay bằng VND đã giảm 0,5 đến 1,5%/năm so với cuối năm 2013 nhưng lãi suất tiền gửi có xu hướng giảm nhanh hơn lãi suất cho vay. Theo Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, tính đến tháng 7/2014, lãi suất tiền gửi VND bình quân là 5,53 %/năm, giảm 0,6 điểm phần trăm so với tháng 12/2013; trong khi lãi suất cho vay bình quân là 10,08 %/năm, giảm 0,25 điểm phần trăm so với tháng 12/2013. Điều này cho thấy ngân hàng vẫn dư địa để có thể thực hiện giảm thêm lãi suất cho vay.

 

Giải pháp kích thích tăng trưởng tín dụng

 

Kích thích tín dụng tăng nhanh bằng mọi giá có thể làm giảm chất lượng của tăng trưởng tín dụng khi tín dụng bị chủ yếu bị dồn ứ vào trái phiếu chính phủ, các dự án đầu tư công và các doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Trong khi đó, khu vực kinh tế tư nhân, vốn là động lực tăng trưởng của quốc gia, ngày càng bị chèn ép và sẽ chịu cảnh đói vốn lâu dài. Vì việc đưa ra các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng tín dụng trong bối cảnh hiện nay cần hết sức thận trọng. Bên cạnh các giải pháp ngắn hạn như xem xét điều chỉnh giảm lãi suất cho vay, tháo gỡ vướng mắc trong vay vốn giữa doanh nghiệp và ngân hàng, Chính phủ vẫn nên tiếp tục tập trung vào các giải pháp mang tính lâu dài nhằm giúp khu vực doanh nghiệp mở rộng năng lực sản xuất, tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả hoạt động của các ngân hàng như: Đẩy mạnh tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, thúc đẩy quá trình xử lý nợ xấu, cải thiện môi trường kinh doanh nhằm thu hút vốn cả trong và ngoài nước, đẩy mạnh đầu tư cho khoa học và giáo dục nhằm cải thiện chất lượng tăng trưởng để tăng trưởng kinh tế bớt phụ thuộc vào vốn.

 

Tài liệu tham khảo
1. Ngân hàng Nhà nước (2014), Thông cáo Báo chí về tình hình hoạt động đến thời điểm 30/7/2014
2. Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia (2014), Báo cáo kinh tế vĩ mô tháng 7 và 7 tháng đầu năm 2014
3. Tổng cục Thống kê (2014), Báo cáo tình hình kinh tế xã hội 7 tháng đầu năm 2014
 

Trích nguồn:NCSEIF
Tác giả: La Hoàn và cộng sự
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202