Tin Kinh tế- xã hội  > Doanh nghiệp

Cải cách doanh nghiệp nhà nước: cần những đột phá

Cập nhật lúc: 28/05/2014 10:03:32 AM

Để phát huy hơn nữa hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước (DNNN), cần có sự hợp lực từ nhiều phía nhằm thực hiện đồng bộ các giải pháp trong năm 2014 - 2015.

Thực trạng cải cách DNNN

Thời gian gần đây, Quốc hội và Chính phủ đã chỉ đạo soạn thảo và ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng tạo cơ sở pháp lý nhằm đẩy mạnh quá trình sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước và đã đạt được những kết quả đáng nghi nhận.

Thứ nhất, việc sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu DNNN trong thời gian vừa qua đã giảm đáng kể số lượng doanh nghiệp (chủ yếu là doanh nghiệp quy mô nhỏ hoặc doanh nghiệp không cần duy trì sở hữu Nhà nước) và đã có tác động góp phần nâng cao năng lực nói chung của cả khu vực doanh nghiệp nhà nước, tập trung chủ yếu vào những ngành, lĩnh vực quan trọng. Theo báo cáo của Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp, tính đến hết năm 2012, cả nước có 73 tập đoàn, tổng công ty (TĐ, TCT) nhà nước, với tổng vốn sở hữu là 735.293 tỷ đồng, tăng 1% so với năm 2011. Tổng tài sản là 2.138.780 tỷ đồng, tăng 2% so với năm 2011, trong đó tài sản cố định chiếm tỷ trọng bình quân là 43,7%. Về công nợ, tổng nợ phải trả là 1.334.903 tỷ đồng, hệ số nợ phải trả/vốn chủ sở hữu bình quân là 1,82 lần (năm 2011 là 1,77 lần). Tổng tài sản/tổng nợ phải trả là 1,6 lần. Số liệu trên cho thấy năm 2012, nhìn tổng thể, hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu của các TĐ, TCT vẫn nằm trong giới hạn cho phép.

Thứ hai, hành lang pháp lý được coi là yếu tố quyết định đến tốc độ chuyển đổi, tái cơ cấu DNNN, do đó trong năm 2013, công tác này đã được gấp rút thực hiện nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Cụ thể, trong năm 2013, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ ban hành: Nghị định số 50/2013/NĐ-CP ngày 17/5/2013 của Chính phủ quy định về quản lý lao động, tiền lương và tiền thưởng đối với người lao động làm việc trong Công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu;

Nghị định số 51/2013/NĐ-CP ngày 17/5/2013 của Chính phủ quy định chế độ tiền lương, thù lao, tiền thưởng đối với Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch Công ty, Kiểm soát viên, Tổng giám đốc hoặc Giám đốc, Phó Tổng giám đốc hoặc Phó giám đốc, Kế toán trưởng trong công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu; Nghị định 61/2013/NĐ-CP ngày 25/6/2013 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế giám sát tài chính và đánh giá hiệu quả hoạt động và công khai thông tin tài chính đối với DN do Nhà nước làm chủ sở hữu và DN có vốn nhà nước;

Nghị định số 71/2013/ NĐ-CP ngày 11/7/2013 của Chính phủ về đầu tư vốn nhà nước vào DN và quản lý tài chính đối với DN do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; Nghị định số 130/2013/NĐ-CP 16/10/2013 về sản xuất và cung ứng sản phẩm dịch vụ, công ích; Nghị định số 151/2013/ NĐ-CP ngày 01/11/2013 của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC)..

Nhìn chung, hệ thống các văn bản được ban hành cơ bản khắc phục những tồn tại, bất cập trong thời gian qua như (i) đã phân định rõhơn về quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu (Chính phủ/ Thủ tướng Chính phủ; Bộ quản lý ngành; UBND cấp tỉnh) đối với DNNN; (ii) thường xuyên, kịp thời kiểm tra, giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNN; (iii) chế tài đồng bộ để buộc các DNNN phải thực hiện nghiêm, đầy đủ quy định trong việc quản lý, sử dụng vốn, tài sản để đầu tư sản xuất kinh doanh; thực hiện các kiến nghị của cơ quan quản lý nhà nước, của cơ quan thanh tra, kiểm toán; (iv) quy định rõ ràng lương, thưởng của viên chức quản lý DN; (v) đã xác định được lộ trình và đề ra các giải pháp thực hiện Tái cơ cấu DNNN, trọng tâm là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước.

Thứ ba, cho đến nay, nhiều tỉnh thành phố đã hoàn thành cơ bản mục tiêu sắp xếp lại công ty nhà nước theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 và Trung ương 9. Tính đến 31/10/2013, đã có 83/91 tập đoàn, tổng công ty (không bao gồm 18 tổng công ty thuộc Bộ Quốc phòng) xây dựng Đề án tái cơ cấu, trong đó có 63 DN đã được phê duyệt Đề án gồm 57 DN thuộc Trung ương, 6 DN thuộc địa phương. Cụ thể là: Thủ tướng Chính phủ phê duyệt 17 DN, gồm: 8 tập đoàn (Dệt may Việt Nam, Điện lực Việt Nam, Than Khoáng sản Việt Nam, Dầu khí Việt Nam, Hoá Chất, Cao su Việt Nam, Công nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam, Viễn thông Quân đội) và 9 tổng công ty đặc biệt (Tổng công ty Giấy, Thuốc lá, Lương thực Miền Bắc, Lương thực Miền Nam, Cà phê, Hàng hải, Hàng không, Đường sắt, Xi măng);

Bộ chủ quản phê duyệt 40 DN: UBND cấp tỉnh, thành phố phê duyệt 6 Tổng công ty (ngoài ra, UBND các tỉnh, thành phố cũng đã phê duyệt đề án tái cơ cấu của 51 Công ty TNHH MTV trực thuộc). Ngoài ra, có 2 TĐ, TCT đã thực hiện cổ phần hóa có vốn Nhà nước nắm cổ phần chi phối đã được Bộ chủ quản có ý kiến thông qua nội dung phương án tái cơ cấu của DN là Tập đoàn Bảo Việt và Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam.

Các TĐ, TCT đã tập trung thực hiện tái cơ cấu ba mục tiêu, đó là: (i) Tái cơ cấu về tổ chức, sắp xếp lại DN; (ii) Tái cơ cấu về tài chính; (iii) Tái cơ cấu về quản trị, lao động. Theo đó, các TĐ, TCT chủ yếu thực hiện sắp xếp lại cơ cấu, tổ chức bộ máy quản lý điều hành của TĐ,TCT; đẩy mạnh việc tổ chức, sắp xếp lại các đơn vị thành viên (xây dựng và phê duyệt cổ phần hóa; sáp nhập; chuyển từ đơn vị độc lập thành đơn vị phụ thuộc).

Trong tái cơ cấu về tài chính, các TĐ, TCT từng bước xử lý những tồn tại về tài chính trình cấp có thẩm quyền xem xét phê duyệt, như: xử lý nguồn chênh lệch do thí điểm kiểm kê, đánh giá lại tài sản; xây dựng phương án đầu tư sản xuất kinh doanh cho ngành nghề kinh doanh chính, sử dụng nguồn lợi nhuận sau thuế, các quỹ hiện có của TĐ, TCT để tăng vốn điều lệ; thoái vốn đã đầu tư tại các công ty cổ phần không thuộc ngành nghề kinh doanh chính, đặc biệt các TĐ, TCT xây dựng lộ trình thoái vốn đã đầu tư ở những lĩnh vực: chứng khoán, quỹ đầu tư, bảo hiểm, ngân hàng và bất động sản. Đồng thời, các TĐ, TCT xây dựng, sửa đổi, bổ sung các giải pháp quản trị nhân sự hiện không phù hợp, hoàn thiện quy chế quản lý nội bộ, xây dựng kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực, giải quyết lao động dôi dư trong quá trình sắp xếp, cơ cấu lại DN.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc thực hiện tái cơ cấu DNNN vẫn còn những hạn chế, tồn tại như: Công tác phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương chưa đáp ứng được yêu cầu, việc thực hiện chế độ báo cáo còn chưa kịp thời để Bộ Tài chính tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ theo đúng yêu cầu. Mặt khác, công tác sắp xếp, cổ phần hóa DNNN đã được các bộ, ngành, địa phương quan tâm chỉ đạo, tuy nhiên việc xây dựng, triển khai Đề án sắp xếp DNNN theo ngành, lĩnh vực kinh doanh không phân biệt cấp, cơ quan quản lý còn chậm trễ. Tiến độ sắp xếp, cổ phần hóa còn chưa đáp ứng được yêu cầu đã đề ra.

Cơ chế quản lý DNNN chưa theo kịp với thực tiễn hoạt động của các DN (chưa phân tách giữa nhiệm vụ kinh doanh và nhiệm vụ công ích nên chưa rõ ràng, minh bạch; thiếu cơ chế đảm bảo cho các DNNN được giao hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực có mức sinh lời thấp mà khu vực kinh tế tư nhân không muốn hoặc không đủ sức tham gia nhưng cần thiết cho nền kinh tế...); Chức năng đại diện chủ sở hữu còn chồng chéo, còn phân tán, chưa phân định rõ cơ quan chịu trách nhiệm chính trong việc quản lý, giám sát việc sử dụng vốn, tài sản của DNNN; Cơ chế giám sát, đánh giá hoạt động của các DNNN chưa có tác dụng cảnh báo, ngăn ngừa việc sử dụng, quản lý yếu kém vốn và tài sản nhà nước.

Cần những giải pháp đồng bộ

Đối với cơ quan quản lý nhà nước

Thứ nhất, tiếp tục bổ sung, hoàn thiện khung khổ pháp lý cho tổ chức và hoạt động của các TĐ, TCT nhà nước và việc quản lý, giám sát đối với các TĐ, TCT phù hợp với đặc điểm ngành kinh tế và thực tiễn của Việt Nam. Cụ thể là: Rà soát, sửa đổi, bổ sung quy hoạch, kế hoạch, chiến lược phát triển trong trung và dài hạn một cách hợp lý, đáp ứng được yêu cầu phát triển bền vững trong môi trường cạnh tranh quốc tế; Phân loại để sắp xếp, thu hẹp phù hợp ngành, lĩnh vực hoạt động và số lượng DN 100% vốn nhà nước hiện có.

Thực hiện tái cơ cấu DNNN, trọng tâm là TĐ, TCT nhà nước; tái cơ cấu DN theo ngành, lĩnh vực không phân biệt cấp, cơ quan quản lý. Sắp xếp lại, tái cấu trúc các tổng công ty nhà nước hiện có theo ngành, lĩnh vực kinh doanh chính, sau đó, tiến hành cổ phần hóa tạo điều kiện hình thành TĐ, TCT nhà nước đa sở hữu mạnh hơn, đủ sức cạnh tranh với các DN kinh doanh cùng ngành trong khu vực. Hoàn thiện khung pháp lý để DNNN kinh doanh hoạt động trong môi trường pháp lý công khai, minh bạch và cạnh tranh bình đẳng với DN thuộc các thành phần kinh tế khác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đã đầu tư.

Đối với những DN hoạt động trong những ngành, lĩnh vực cần duy trì 100% vốn nhà nước, xác định rõ vai trò, chức năng, nhiệm vụ giao cho DN, rà soát lại để có cơ cấu hợp lý, tập trung hoạt động trong lĩnh vực ngành, nghề chính, có hiệu quả, sức cạnh tranh và thực hiện tốt hơn vai trò và nhiệm vụ được giao; thoái vốn đầu tư vào ngành không phải ngành kinh doanh chính hoặc không trực tiếp liên quan đến ngành kinh doanh chính của từng DN; Hoàn thiện cơ chế tài chính để đảm bảo người lao động có mức thu nhập hợp lý, DN có lãi, thu hút được nguồn lực của xã hội tham gia. Mở rộng chế độ đấu thầu, đặt hàng sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích. DNNN được Nhà nước giao làm nhiệm vụ công ích hoặc bình ổn giá, thì Nhà nước có cơ chế, chính sách để DN hạch toán kinh doanh và thực hiện tốt nhiệm vụ này.

Thứ hai, tiếp tục đẩy mạnh việc sắp xếp, cổ phần hóa DNNN theo các đề án sắp xếp tổng thể đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Đổi mới quản trị để DNNN mà trọng tâm là các TĐ, TCT nhà nước nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất, kinh doanh; mở rộng quy mô đi đôi với nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh và phát triển bền vững. Có cơ chế quản lý, kiểm soát việc nhập khẩu công nghệ, máy móc, thiết bị... của DN. Rà soát, đánh giá để bố trí đúng cán bộ chủ chốt của TĐ, TCT; Sớm ban hành quy định công khai kết quả, hiệu quả sản xuất kinh doanh, tài chính DN, đồng thời với việc tăng cường trách nhiệm giải trình của lãnh đạo DN và cơ quan quản lý nhà nước, các DN phải được kiểm toán hàng năm; Xác định cụ thể và làm rõ quyền hạn, trách nhiệm của hội đồng thành viên, tổng giám đốc, giám đốc DN trong quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước để bảo đảm quyền chủ động sản xuất, kinh doanh và bảo toàn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tài sản. Quy định tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình bổ nhiệm, đánh giá cán bộ quản lý ở DNNN…

Thứ ba, tăng cường chức năng giám sát của chủ sở hữu đối với DNNN, nhất là kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật và nâng cao khả năng quản trị DN. Xây dựng cơ chế trao đổi thường xuyên các thông tin kinh tế - xã hội với các TĐ, TCT để đề xuất và giải quyết kịp thời các vướng mắc của TĐ, TCT.

Đối với các doanh nghiệp

- Trên cơ sở xác định lại nhiệm vụ, ngành nghề kinh doanh, các DNNN đặc biệt là các TĐ, TCT cần xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển cụ thể, phù hợp với thị trường và khả năng nguồn vốn, năng lực quản lý của mình.

- Rà soát lại các dự án đầu tư, quyết liệt trong chỉ đạo và thực hiện đảm bảo đúng tiến độ và chất lượng những dự án trọng điểm, dự án quan trọng đối với phát triển kinh tế, xã hội của đất nước và đối với chiến lược phát triển của TĐ, TCT; dừng, hoãn, cắt giảm các dự án đầu tư chưa cần thiết, kém hiệu quả, kể cả các dự án đầu tư ra nước ngoài để tập trung vốn và đẩy nhanh tiến độ cho các dự án thuộc ngành, nghề kinh doanh chính mà sớm đem lại hiệu quả.

- Những DNNN đang có khó khăn về mặt tài chính, một mặt cần làm rõ trách nhiệm của cán bộ quản lý có liên quan. Mặt khác, cần cơ cấu lại vốn, tài sản theo hướng: đánh giá thực trạng, xác định nhu cầu vốn để có cơ chế xử lý bổ sung vốn tiếp tục thực hiện các dự án đầu tư có hiệu quả, hạn chế thất thoát vốn do kéo dài thời gian dự án và cơ cấu lại tài sản bằng cách chuyển nhượng, sáp nhập các dự án, các khoản đầu tư không hiệu quả hoặc không cần thiết để tập trung nguồn lực cho hoạt động kinh doanh chính.

- Kiện toàn bộ máy quản lý, áp dụng những chuẩn mực quản trị kinh doanh hiệu đại và có hiệu quả cao trong các DNNN. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ quản trị cho đội ngũ cán bộ quản lý DN để đáp ứng yêu cầu quản trị DN trong cơ chế thị trường. Chú ý nâng cao năng lực của bộ máy tham mưu, giúp việc.

- Phải hoàn thiện hệ thống quy chế nội bộ đồng bộ, chặt chẽ để bảo đảm hoạt động của các TĐ, TCT và thực thi nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ quản lý trong TĐ, TCT đúng quy định của pháp luật và chỉ đạo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Chủ động đào tạo, lựa chọn và bố trí cán bộ quản lý phù hợp cho mục tiêu dài hạn. Có chế tài đủ mạnh và quan điểm xử lý kiên quyết đối với những trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi, làm thất thoát vốn, tài sản của Nhà nước và DN.

- Có giải pháp đồng bộ, khoa học để phát huy tính dân chủ và tổng hợp được sức mạnh của tổ chức Đảng, các tổ chức xã hội đoàn thể và người lao động trong việc giám sát hoạt động quản lý, điều hành của những cán bộ lãnh đạo các cấp trong TĐ, TCT nhà nước bảo đảm đúng pháp luật, không làm tổn hại đến lợi ích của Nhà nước, DN và người lao động.

- Tăng cường công tác kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ cả về bộ máy thực hiện và cơ chế làm việc, nhất là kiểm soát rủi ro tài chính để kịp thời có biện pháp phòng ngừa, hạn chế rủi ro và điều chỉnh kế hoạch sản xuất, kinh doanh cho phù hợp.

- Tập trung đổi mới, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của các sản phẩm, dịch vụ thuộc lĩnh vực kinh doanh chính, các sản phẩm, dịch vụ có lợi thế cạnh tranh, có hàm lượng khoa học, công nghệ cao, từng bước nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm, dịch vụ, đáp ứng tiêu chuẩn môi trường; hạn chế dần các sản phẩm gia công, sản phẩm tiêu tốn nhiều năng lượng, tài nguyên, sản phẩm không gắn với tiêu chuẩn môi trường để tăng cường hiệu quả kinh doanh và sự phát triển bền vững.

- Có các biện pháp kiểm soát chặt chẽ chi phí đầu vào, thực hiện đúng các quy định về tiết kiệm, chống lãng phí, thực hiện các biện pháp tiết giảm chi phí, tổ chức sản xuất, kinh doanh hợp lý, nâng cao tính chuyên môn hóa và hợp tác hóa giữa các đơn vị thành viên để giảm giá thành sản phẩm, dịch vụ, tăng năng lực cạnh tranh, chủ động công tác xúc tiến thương mại để tiếp cận thị trường các nước trên thế giới, qua đó quảng bá hình ảnh, hàng hóa của Việt Nam với các TĐ kinh tế và thị trường lớn, có tiềm năng trên thế giới; tiếp tục tạo điều kiện để các tổ chức kinh tế, các tập đoàn kinh tế nước ngoài đầu tư vốn vào Việt Nam.

- Chủ động tìm kiếm, khai thác các nguồn vốn ngoài NSNN để đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, khuyến khích các thành phần kinh tế khác để phát triển các ngành, lĩnh vực chủ lực, trong đó ưu tiên những ngành, lĩnh vực áp dụng công nghệ cao, công nghệ mới và phương pháp quản lý tiên tiến; có cơ chế tạp điều kiện cho các TĐ, TCT phối hợp với các DN thuộc các thành phần kinh tế trong nước nâng cao năng lực, sức cạnh tranh trong thực hiện các dự án đầu tư lớn trong và ngoài nước; tạo điều kiện gắn kết hoạt động của các DN nhỏ và vừa với các TĐ, TCT trong việc phát triển chuỗi công nghiệp phụ trợ.

- Đẩy mạnh cổ phần hóa, giảm số lượng DN mà Nhà nước giữ cổ phần chi phối. Thực hiện tái cơ cấu, sắp xếp lại các DN thành viên theo hướng chuyên môn hóa cao, hợp tác hóa tập trung vào lĩnh vực kinh doanh chính nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và sức cạnh tranh.

Tài liệu tham khảo:
1.    Những vấn đề doanh nghiệp nhà nước đang phải đối mặt, Tạp chí Tài Chính.
2.    Đổi mới Doanh nghiệp Nhà nước, Thực trạng và thách thức, CIEM.
3.    Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước: Quyết tâm trong chặng “nước rút”, Tạp chí Tài chính.
4.    Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước: Thực trạng và giải pháp hành động, Finance Plus.

 

Trích nguồn:NCSEIF
Tác giả: La Hoàn (tổng hợp)
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202