Tin Kinh tế- xã hội  > Thị trường, giá cả

Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng nhập siêu cao và kéo dài của nền kinh tế Việt Nam qua cách tiếp cận vi mô

Cập nhật lúc: 25/10/2013 02:49:14 PM

NCSEIF - Nền kinh tế Việt Nam đang trải qua một giai đoạn mất cân đối vĩ mô kéo dài, trong đó phải kể đến tình trạng nhập siêu cao. Nhiều nhà kinh tế cho rằng tỉ giá hối đoái định giá cao hơn thực tế là nguyên nhân chính của tình trạng này. Tuy nhiên, thực tế diễn ra trong giai đoạn 2008-2011 cho thấy mặc dù tiền đồng đã bị phá giá liên tục với mức độ khá cao nhưng cán cân thương mại vẫn thâm hụt nặng nề. Do đó, nguyên nhân cơ bản của tình trạng nhập siêu kéo dài ở Việt Nam có thể do cơ cấu kinh tế và do vấn đề hiệu quả sử dụng nguồn lực đầu vào của doanh nghiệp. Khi nghiên cứu nguyên nhân cơ bản của tình trạng nhập siêu cao và kéo dài ở Việt Nam do cơ cấu kinh tế, Lương Văn Khôi và cộng sự (2012) đá chỉ ra các nhóm ngành có chỉ số kích thích nhập khẩu lớn hơn 1. Đây là cơ sở cho việc ứng dụng phương pháp tiếp cận vi mô bằng việc sử dụng các mô hình CCR-I và BCC-I của phương pháp phi tham số hay phương pháp Bao dữ liệu (DEA) (với hai biến đầu vào là lao động (L) và vốn (K) và một biến đầu ra là giá trị tăng thêm (VA)) và tập dữ liệu điều tra doanh nghiệp được tiến hành bởi Tổng cục Thống kê vào năm 2008 để xem xét hiệu quả kỹ thuật hay để đo lường hiệu quả phân bổ và sử dụng nguồn lực đầu vào của các doanh nghiệp hoạt động trong các nhóm ngành có chỉ số kích thích nhập khẩu ngày càng cao và có xu hướng kéo dài (Chi tiết xem Lương Văn Khôi và Cộng sự, 2012).


Theo Lương Văn Khôi và Cộng sự (2012), xem xét giai đoạn 1996-2007 (do sử dụng 3 Bảng I/O) có 7 nhóm ngành luôn có hệ số nhập khẩu > 1, cơ bản có xu hướng tăng hoặc không đổi trong cả giai đoạn nghiên cứu bao gồm: Hóa chất hữu cơ và vô cơ căn bản (N17);  Phân bón, thuốc trừ sâu, hợp chất nitơ (N18); Sản phẩm hóa chất khác và sợi nhân tạo (N22); Luyện kim đen, màu và các sản phẩm bằng kim loại đen đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) (N26); Sợi và dệt kim (N27); Trang phục và may mặc (N28); và Xăng, dầu mỡ (N31). Do hạn chế về nguồn lực và số liệu hiện có, các tác giả chỉ tập trung phân tích định lượng theo cách tiếp cận vi mô đối với 5 trong số  7 nhóm ngành này (bao gồm N17, N18, N22, N27 và N28) trong phần phân tích thực nghiệm từ cách tiếp cận vi mô và trong bài viết này tác giả chỉ trình bầy sâu đối với kết quả phân tích thực nghiệm đối với 3 nhóm ngành đầu bao gồm các nhóm ngành N17, N18 và N22.


Đối chiếu nhóm ngành được xác định trong nghiên cứu này theo mã CPC (Hệ thống phân loại sản phẩm chủ yếu của Liên Hiệp quốc) với các nhóm ngành theo Hệ thống ngành kinh tế quốc dân (theo Nghị định số 75/CP ngày 27/10/1993—VISIC1993), các nhóm ngành có hệ số kích thích nhập khẩu > 1 và có xu hướng ngày càng tăng hoặc không đổi tương ứng với các nhóm ngành theo Nghị định số 75/CP được chỉ rõ trong Bảng 1.


 

Đối với những ngành có chỉ số kích thích nhập khẩu >1, khi tăng sản lượng sản xuất sẽ kích thích các ngành có liên quan nhập khẩu. Nếu những ngành này sử dụng nguồn lực đầu vào không hiệu quả sẽ có tác động rất lớn tới việc nhập khẩu chung của nền kinh tế. Do đó, phần dưới đây sẽ trình bầy kết quả phân tích hiệu quả sử dụng nguồn lực đầu vào của các doanh nghiệp hoạt động trong 4 nhóm ngành trên qua việc ứng dụng các mô hình   và  vào số liệu điều tra doanh nghiệp của các nhóm ngành tương ứng theo Hệ thống ngành kinh tế quốc dân theo Nghị định số 75/CP như được đề cập đến trong Bảng 1.


Ba nhóm ngành N17, N18 và N22, như đã đề cập trong Bảng 1 là những  nhóm ngành thuộc ngành 24—Ngành sản xuất hóa chất và các sản phẩm  hóa chất theo hệ thống ngành kinh tế quốc dân VSIC 1993, do vậy trong phần này tác giả sẽ xem xét các doanh nghiệp trong 5 phân ngành thuộc ngành 24 của VSIC 1993 bao gồm: 2411, 2412, 2413, 2422 và 2429. Từ Bảng 2 có thể nhận thấy các doanh nghiệp hoạt động trong 3 nhóm ngành N17, N18 và N22 có hiệu quả hoạt động thấp, sử dụng nguồn lực đầu vào không hiệu quả. Cụ thể, với mức đầu ra hiện tại các doanh nghiệp sử dụng quá nhiều đầu vào bao gồm lao động và nhà xưởng, máy móc thiết bị,... Việc sử dụng quá mức đầu vào này do hai nhóm yếu tố cơ bản là: (1) nhóm các yếu tố nội tại doanh nghiệp (như tài sản cố định, trình độ lao động và trình độ quản lý) và (2) nhóm các yếu tố môi trường kinh doanh gây ra. Các doanh nghiệp thuộc các nhóm quy mô khác nhau có mức hiệu quả kỹ thuật (TE) thấp (từ 12,4% đến 68,4%). Trong đó, nhóm doanh nghiệp có quy mô vừa (Nhóm DNV) (với 9 doanh nghiệp được xem xét) có mức hiệu quả kỹ thuật cao nhất (68,4%) và do nhóm này có mức hiệu quả kỹ thuật thuần túy cao nhất (97,8%). Nhóm doanh nghiệp có quy mo lớn (Nhóm DNL) mặc dù có quy mô lớn hơn, có lợi thế hơn về vốn, song lại có mức hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả kỹ thuật thuần túy (PTE) thấp hơn nhóm DNV. Có thể do nhóm DNL không tuyển dụng đủ lực lượng lao động có trình độ tay nghề cao nên ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Xét yếu tố điều kiện kinh doanh thì nhóm DNV có hiệu quả quy mô (SE) cao hơn nhóm DNL và các nhóm khác. Điều này cho thấy trong 3 nhóm ngành N17, N18 và N22, các doanh nghiệp có quy mô vừa hoạt động năng động và thích nghi với môi trường hơn các nhóm khác. Các doanh nghiệp thuộc các nhóm quy mô thấp hơn (DNN và DNSN) có TE thấp hơn và chủ yếu do những méo mó, cạnh tranh không hoàn hảo,... của môi trường kinh doanh gây ra.
 


 

Bảng 2 cho thấy các doanh nghiệp thuộc nhóm DNL mặc dù có TE cao thứ 2 đạt mức 40,3% mức tối ưu, song lại có mức sử dụng đầu vào thiếu hiệu quả nhiều nhất xét về giá trị tuyệt đối với 11.865 lao động và 837 tỷ đồng vào năm 2007. Trong đó mức dư thừa đầu vào được sử dụng không hiệu quả này do các yếu tố nội tại của doanh nghiệp gay ra là 7.736 người và 714 tỷ đồng và các yếu tố do môi trường kinh doanh gây ra là 4.129 người và 159 tỷ đồng. Hiệu quả của các doanh nghiệp thuộc nhóm quy mô nhỏ và siêu nhỏ chịu nhiều tác động tiêu cực bởi những méo mó của thị trường, cạnh tranh không hoàn hảo của môi trường kinh doanh nhất, do đó hiệu quả sử dụng nguồn lực đầu vào rất thấp. Trong trường hợp này, Chính phủ cần có những giải pháp thỏa đảng để cải cách và tạo môi trường kinh doanh thông thoáng trợ giúp các doanh nghiệp tăng trưởng và phát triển. Mặc dù, có hiệu quả hoạt động do các yếu tố nội tại doanh nghiệp khá nhưng với điều kiện hiện tại về trình độ công nghệ và nguồn nhân lực, các doanh nghiệp này có mức sử dụng đầu vào không hiệu quả, thừa tương đối cao. Cụ thể với 413 doanh nghiệp thuộc nhóm DNN xem xét thì có đến 6.757 lao động và 1.561 tỷ đồng sử dụng lãng phí do các yếu tố nội tại (trình độ lao động và trình độ công nghệ, máy móc thiết bị) gây ra và 9,762 lao động và 1.558 tỷ đồng sử dụng lãng phí do cạnh tranh không hoàn hảo hoặc do những méo mó của môi trường kinh doanh gây ra. Tính tổng cho 522 doanh nghiệp thuộc 3 nhóm ngành N17, N18 và N22 xem xét thì có đến 29.527 lao động và 4.132 tỷ đồng sử dụng lãng phí trong năm 2007. Chính việc sử dụng lãng phí này của các nhóm ngành có hệ số kích thích nhập khẩu ngày càng tăng cao này đã kích thích việc nhập khẩu nhiều hơn. Đây là nguyên nhân khiến nhập siêu của nền kinh tế Việt Nam luôn cao và kéo dài. Do đó, để cải thiện tình trạng nhập siêu cao và kéo dài của các nhóm ngành này và do đó của nền kinh tế Việt Nam thì Chính phủ cần có những giải pháp tích cực để cải thiện môi trường kinh doanh để đảm bảo có một môi trường kinh doanh thông thoáng và bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi loại hình doanh nghiệp và mọi nhóm quy mô.
 

Nhóm ngành N27 tương ứng với các phân ngành 1711, 1721, 1722 và 1729 của ngành Dệt có mã VSIC 1993 là 17. Đối với nhóm ngành N28, theo phân tích ở trên nhóm ngành này chỉ bao gồm phân ngành 1810 thuộc ngành sản xuất trang phục trong hệ thống ngành kinh tế quốc dân năm 1993 của Việt Nam và là ngành thâm dụng lao động cao. Cả 2 nhóm ngành này đều được xếp vào nhóm ngành thâm dụng lao động. Cả hai nhóm ngành này đều có hiệu quả sử dụng nguồn lực đầu vào không hiệu quả. Cụ thể là xét chung 501 doanh nghiệp thuộc nhóm ngành N27 thì có đến 59.454 lao động và 11.298 tỷ đồng tài sản cố định đã bị sử dụng quá mức không hiệu quả, trong đó 14.808 lao động và 2.374 tỷ đồng là do các yếu tố nội tại của doanh nghiệp gây ra. Phần còn lại là do các yếu tố điều kiện kinh doanh gây ra. Đối với nhóm ngành N28, xét chung cho 1.154 doanh nghiệp thuộc nhóm ngành N28 được xem xét, có đến 379.646 lao động và 10.697 tỷ đồng sử dụng không hiệu quả. Trong đó do các yếu tố nội tại của doanh nghiệp (như trình độ công nghệ, máy móc thiết bị, trình độ quản lý và trình độ lao động,...) gây ra là 258.728 người và 9.306 tỷ đồng và do các yếu tố thị trường bị bóp méo và cạnh tranh không hoàn hảo của môi trường kinh doanh gây ra là 120.918 người và 1.391 tỷ đồng.
 

Tóm lại, phân tích định lượng các ngành có hệ số kích thích nhập khẩu cao bằng việc ứng dụng các mô hình của phương pháp phi tham số cho ta minh chứng rõ nét về nguyên nhân nhập siêu cao và kéo dài của nền kinh tế Việt Nam đó là việc sử dụng các nguồn lực đầu vào của các ngành này thiếu hiệu quả. Thể hiện qua việc phân bổ và sử dụng nguồn lực đầu vào và/hoặc tiêu hao nguồn lực đầu vào lớn. Chỉ xét 5 nhóm ngành (gồm N17, N18, N22, N27 và N28) với 2.177 doanh nghiệp thuộc 6 nhóm quy mô thì có đến 468.627 lao động và 26.127 tỷ đồng (tương đương 5% tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2007) được phân bổ và sử dụng không hiệu quả bị lãng phí. Trong đó 313.928 lao động và 18.447 tỷ đồng là do các yếu tố nội tại của doanh nghiệp gây ra và 155.230 lao động và 7.872 tỷ đồng sử dụng không hiệu quả do các yếu tố môi trường kinh doanh gây ra như cạnh tranh không hoàn hảo, quy định của Chính phủ,... Điều này đồng nghĩa với việc hàng năm có một lượng rất lớn nguồn lực đầu vào của nền kinh tế được sử dụng không hiệu quả và có thể tiết kiệm được để được sử dụng cho các ngành khác để tạo nguồn tăng trưởng và phát triển cho toàn bộ nền kinh tế. Việc sử dụng quá mức hay tiêu hao quá lớn nguồn lực đầu vào này càng tệ hại đối với những ngành có hệ số kích thích nhập khẩu cao và có xu hướng kéo dài vì nó có tác động kích thích nhiều ngành khác nhập khẩu nhiều hơn khiến thâm hụt thương mại của nền kinh tế Việt Nam có xu hướng ngày càng cao và kéo dài./.

--------------------------------------------------
Nguồn: Lương Văn Khôi và Cộng sự, 2012. Phân tích định lượng để tìm ra nguyên nhân nhập siêu cao và kéo dài của nền kinh tế Việt Nam. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ.

Trích nguồn:
Tác giả: TS. Lương Văn Khôi
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202