Tin Kinh tế- xã hội  > Thị trường, giá cả

Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng nhập siêu cao và kéo dài của nền kinh tế Việt Nam qua cách tiếp cận vĩ mô và ngành

Cập nhật lúc: 24/10/2013 04:07:01 PM

NCSEIF - Nền kinh tế Việt Nam đang trải qua một giai đoạn mất cân đối vĩ mô kéo dài, trong đó phải kể đến tình trạng nhập siêu cao. Nhiều nhà kinh tế cho rằng tỉ giá hối đoái định giá cao hơn thực tế là nguyên nhân chính của tình trạng này. Tuy nhiên, thực tế diễn ra trong giai đoạn 2008-2011 cho thấy mặc dù tiền đồng đã bị phá giá liên tục với mức độ khá cao nhưng cán cân thương mại vẫn thâm hụt nặng nề. Do đó, nguyên nhân cơ bản của tình trạng nhập siêu kéo dài ở Việt Nam có thể do cơ cấu kinh tế. Bài nghiên cứu này sử dụng phương pháp tiếp cận vĩ mô và ngành với việc sử dụng một số kỹ thuật phân tích bằng mô hình I/O để xem xét ảnh hưởng của cơ cấu ngành kinh tế đến nhu cầu nhập khẩu ở cấp vĩ mô và cấp ngành.


Căn cứ vào các danh mục ngành sản phẩm của 3 Bảng I/O 1996, 2000 và 2007, các ngành sản phẩm trong 3 Bảng I/O được nhóm gộp thành 34 ngành sản phẩm. Danh mục cụ thể của 34 ngành sản phẩm được thể hiện trong Bảng 1.

Bảng 1: Danh mục 34 ngành sản phẩm đưa vào phân tích

Ngành

 

 

Gộp ngành

Ngành

 

 

Gộp ngành

N1

Trồng trọt và lâm nghiệp

N18

Phân bón, thuốc trừ sâu, hợp chất nitơ

N2

Chăn nuôi, thuỷ sản

N19

Dược phẩm

N3

Công nghiệp phi chế tác

N20

Cao su, các sản phẩm làm từ cao su

 

N4

Chế biến bảo quản thịt và các sản phẩm từ thịt; Dầu mỡ thực vật, động vật; Sản phẩm bơ sữa

 

N21

Chất dẻo, các sản phẩm làm từ chất dẻo

N5

Chế biến và bảo quản rau quả

 

N22

Sản phẩm hóa chất khác và sợi nhân tạo

 

 

N6

Rượu, bia, nước uống không cồn

 

 

N23

Các sản phẩm khác bằng kim loại (dụng cụ y tế, thiết bị chính xác quang học, đồng hồ các loại, dụng cụ gia đình, mô tô xe máy, xe đạp và các máy móc thông dụng khác)

N7

Đường các loại; Bánh, mứt, kẹo, ca cao, sôcôla

 

N24

Chế tạo máy (máy công cụ, máy chuyên dùng, ô tô các loại và thiết bị vận tải khác)

N8

Chế biến chè, cà phê

 

 

 

N25

Các sản phẩm điện, điện tử (máy móc thiết bị điện, điện dân dụng, thiết bị truyền thanh, truyền hình và thông tin, môtơ, biến thế, pin)

N9

Thuốc lá, thuốc lào

 

 

N26

Luyện kim đen, màu và các sản phẩm bằng kim loại đen đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị)

N10

Chế biến thuỷ sản và sản phẩm từ thuỷ sản

N27

Sợi và dệt kim

 

N11

Xay xát, chế biến lương thực và thực phẩm khác, gạo

N28

Trang phục và may mặc

 

N12

Sành, sứ, gốm, thủy tinh

N29

Da và các sản phầm từ da

N13

Vật liệu xây dựng khác

 

 

 

N30

Sản phẩm công nghiệp khác (chế biến thức ăn gia súc, sản phẩm công nghiệp in, sản phẩm công nghiệp khác còn lại) và sản phẩm của nhà xuất bản

N14

Xi măng các loại

N31

Xăng, dầu mỡ

N15

Giấy, các sản phẩm từ giấy

N32

Xây dựng

N16

Chế biến gỗ, lâm sản

N33

Các dịch vụ thị trường

N17

Hóa chất hữu cơ và vô cơ căn bản

N34

Các dịch vụ công

 

 

 

Nguồn: Lương Văn Khôi và Cộng sự

 

3 kỹ thuật được vận dụng trong phân tích là: (i) Chỉ số lan tỏa kinh tế; (ii) Chỉ số kích thích nhập khẩu và (iii) Phân rã tác động các nhân tố phía cầu đến nhập khẩu các kỹ thuật phân tích mô hình I/O, các nguyên nhân gây ra nhập khẩu ở cấp vĩ mô và cấp ngành được nhận dạng như sau:

1. Đối với cấp vĩ mô:

- Một số phân ngành thuộc khu vực công nghiệp có chỉ số lan tỏa kinh tế nhỏ hơn 1 và đồng thời nhiều phân ngành có chỉ số kích thích nhập khẩu lớn hơn 1. Trong khi đó, ngoại trừ ngành chăn nuôi và thủy sản thì các ngành thuộc khu vực nông lâm ngư nghiệp và dịch vụ có chỉ số lan tỏa kinh tế thấp hơn 1 và chỉ số kích thích nhập khẩu cũng thấp hơn 1 (xem Bảng 2).

 

Bảng 2: Chỉ số lan tỏa kinh tế và chỉ số kích thích nhập khẩu của 34 ngành kinh tế năm 2007

Ngành

Chỉ số lan tỏa kinh tế

Chỉ số kích thích nhập khẩu

Ngành

Chỉ số lan tỏa kinh tế

Chỉ số kích thích nhập khẩu

N1

0,88

0,86

N18

0,95

1,39

N2

1,35

0,90

N19

0,93

1,00

N3

0,75

0,79

N20

0,72

0,89

N4

1,37

0,83

N21

0,80

1,05

N5

1,49

0,76

N22

0,97

1,15

N6

1,13

0,87

N23

0,85

1,10

N7

1,34

0,82

N24

0,88

1,15

N8

0,99

0,74

N25

0,93

0,88

N9

1,20

0,84

N26

0,87

1,38

N10

1,69

0,74

N27

0,97

1,17

N11

1,44

0,78

N28

0,98

1,08

N12

0,73

1,19

N29

0,88

1,02

N13

0,80

1,02

N30

0,85

0,93

N14

0,98

0,88

N31

0,71

2,00

N15

1,06

0,98

N32

0,96

0,97

N16

1,00

0,80

N33

0,81

0,88

N17

0,93

1,37

N34

0,83

0,78

Nguồn: Lương Văn Khôi và Cộng sự

 

- Chỉ số kích thích nhập khẩu của tất cả các thành phần cầu đều tăng qua các giai đoạn (1). Đây là bằng chứng định lượng rõ ràng nhất để lý giải tình trạng nhập khẩu tăng cao và kéo dài của nền kinh tế Việt Nam. Phân tích sâu hơn về mức độ tăng của chỉ số kích thích nhập khẩu cho thấy tăng đáng kể nhất là chỉ số kích thích nhập khẩu của tích lũy vốn và xuất khẩu. Các kết quả phân tích bằng phương pháp phân rã tác động của các nhân tố cầu đến nhu cầu nhập khẩu cũng khẳng định tích lũy vốn và xuất khẩu ngày càng tác động lớn hơn đối với nhập khẩu mặc dù nhân tố tiêu dùng tư nhân vẫn chiếm tỉ trọng lớn nhất.

 


2. Đối với cấp ngành:

 

Phân tích nguyên nhân nhập khẩu từ các các thành phần cầu đối với 13 ngành có chỉ số kích thích nhập khẩu cao hơn 1 đã khẳng định các kết luận rút ra từ các phân tích ở cấp vĩ mô, cụ thể là:

+ Nhân tố tiêu dùng tư nhân quyết định trên 50% nhu cầu nhập khẩu của 7 ngành và trên 30% của 9 ngành.

+ Nhân tố xuất khẩu quyết định trên 50% nhu cầu nhập khẩu của 4 ngành và trên 30% của 11 ngành.

+ Nhân tố tích lũy vốn quyết định trên 50% nhu cầu nhập khẩu của 1 ngành và trên 30% của 4 ngành.

Như vậy, đối với các ngành có chỉ số kích thích nhập khẩu cao hơn 1 thì tiêu dùng tư nhân vẫn là nhân tố chính quyết định nhu cầu nhập khẩu nhưng vai trò của các nhân tố tích lũy vốn và xuất khẩu đang tăng lên nhanh chóng. Điều này phản ánh đúng tình hình thương mại hàng hóa của Việt Nam với các nước, đặc biệt là đối với 7 đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam (bao gồm trung Quốc, ASEAN, EU, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan(Trung Quốc)) là nhập siêu ngày cao và có xu hướng kéo dài của nền kinh tế Việt Nam là do nhập siêu hay thâm hụt thương mại ngày càng cao và có xu hướng kéo dài của nhóm hàng trung gian và tư liệu sản xuất, đặc biệt là nhóm hàng trung gian trong đó nhóm hàng bán thành phẩm chiếm trên 80%. Việc nhập khẩu lớn nhóm hàng bán thành phẩm có xu hướng ngày càng tăng mạnh để lắp ráp hoặc chỉ cần qua công đoạn đơn giản hoàn thiện để tiêu thụ trong nước hoặc để xuất khẩu – Đây là những nhân tố quan trọng quyết định cầu nhập khẩu khiến tình trạng nhập siêu của nền kinh tế Việt Nam cao và có xu hướng kéo dài.

3. Kết hợp các kết luận từ các phân tích bằng mô hình I/O với diễn biến của các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô cho thấy giai đoạn tăng trưởng dựa trên tích lũy vốn và xuất khẩu vừa qua tất yếu dẫn đến nhập khẩu cao bởi nhu cầu nhập khẩu cho tích lũy vốn và nguyên vật liệu phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu và tiêu dùng nội địa đã được hình thành ngay từ năm 1996. Nói cách khác, tình trạng nhập khẩu cao và ngày càng gia tăng có nguyên nhân từ cơ cấu kinh tế./.

 

 

 

---------------------------------

 

(1) Những ngành có chỉ số kích thích nhập khẩu >1 có nghĩa là khi sản xuất của ngành này càng tăng, càng sử dụng nhiều nguồn lực đầu vào thì nó càng kích thích các ngành khác nhập khẩu. Hoặc, nếu tăng các yếu tố cầu lên 1 đơn vị (tiêu dùng trong nước (được cung cấp bởi sản xuất trong nước hoặc nhập khẩu từ nước ngoài), tích lũy tài sản (cầu nhập khẩu máy móc thiết bị phục vụ quá trình sản xuất trong nước) và xuất khẩu (sản xuất để xuất khẩu)) sẽ kích thích nhập khẩu  đối với nền kinh tế.
Nguồn: Lương Văn Khôi và Cộng sự, 2012. Phân tích định lượng để tìm ra nguyên nhân nhập siêu cao và kéo dài của nền kinh tế Việt Nam. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ.
Trích nguồn:
Tác giả: TS. Lương Văn Khôi
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202