Nghiên cứu > Điều tra - khảo sát

Ý nghĩa và vai trò của điều tra khảo sát niềm tin kinh doanh trong phân tích và dự báo

Cập nhật lúc: 24/10/2013 11:38:16 AM

NCSEIF - Niềm tin kinh doanh (Business Confidence), hay cụ thể hơn là chỉ số niềm tin kinh doanh (Business Confident Index--BCI) được điều tra khảo sát và xây dựng tại nhiều nước và tổ chức trên thế giới. Điểm chung là BCI được xác định trên cơ sở một cuộc điều tra khảo sát Niềm tin Kinh doanh (Business Confident Survey) hay Tâm lý Kinh doanh (Business Sentiment Survey) hay Xu hướng Kinh doanh (Business Tendency Survey). Điều tra khảo sát niềm tin kinh doanh được thực hiện để cung cấp thông tin về nhận thức của các tác nhân kinh tế về tình trạng hiện hành và kỳ vọng tương lai hay để xác định thái độ và kỳ vọng của các chủ doanh nghiệp và các nhà quản lý doanh nghiệp. Các cuộc điều tra khảo sát niềm tin kinh doanh được thực hiện theo tháng hoặc theo quý hoặc cả theo tháng và theo quý, thậm chí là nửa năm. Mỗi nước, tổ chức có cách định nghĩa khác nhau về chỉ số niềm tin kinh doanh.


Theo Financial Times Lexicon, niềm tin kinh doanh là một chỉ số kinh tế đo lường mức độ lạc quan hoặc bi quan mà các nhà quản lý kinh doanh về triển vọng của các công ty/tổ chức của họ. Nó cũng cung cấp một cái nhìn tổng quan về tình trạng của nền kinh tế.


Tại Mỹ, cuộc khảo sát niềm tin kinh doanh của Mỹ đo lường mức độ lạc quan của các chủ doanh nghiệp về hoạt động của nền kinh tế và triển vọng của doanh nghiệp. Các điều tra khảo sát niềm tin kinh doanh có thể cung cấp những dấu  hiệu tin cậy về điều kiện hiện tại của nền kinh tế, bởi vì các doanh nghiệp luôn có thông tin về nhu cầu của người tiêu dùng sớm hơn các nhà nghiên cứu thống kê hay chính phủ.


Theo Pháp, BCI của Pháp là thước đo niềm tin của các lãnh đạo doanh nghiệp Pháp. Chỉ số này được xây dựng dựa trên một khảo sát hỏi về triển vọng các đơn hàng mới và cả nhận về tình hình kinh tế chung. Chỉ số này tăng thường đi kèm với việc đầu tư sẽ tăng lên, dẫn tới sản lượng tăng.


Tại CHLB Đức, BCI của Đứcđược xây dựng dựa trên một cuộc khảo sát hàng tháng gồm 7000 doanh nghiệp, đo lường mức độ lạc quan mà các nhà điều hành doanh nghiệp có về tình hình kinh tế và cảm nhận của họ về triển vọng của doanh nghiệp. Khảo sát niềm tin kinh doanh có thể cung cấp những dấu hiệu hữu ích về tình hình hiện tại của nền kinh tế, vì các công ty thường có thông tin về cầu tiêu dùng sớm hơn so với các nhà thống kê của Chính phủ.


Tại Nhật Bản, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản tiến hành cuộc điều tra khảo sát niềm tin kinh doanh với tên gọi cuộc Khảo sát Tankan. Khảo sát Tankan hỏi các doanh nghiệp về môi trường kinh doanh để giúp quyết định chính sách tiền tệ. Tankan đưa lại cái nhìn thấu suốt về hướng đi tương lai của chi tiêu đầu tư và việc định giá cũng như triển vọng của doanh nghiệp về việc làm và toàn bộ nền kinh tế. Chỉ số này được các nhà đầu tư quốc tế sử dụng như cửa sổ để nhìn vào nền kinh tế Nhật Bản, và quan trọng hơn, để NHTW Nhật Bản quyết định chính sách tiền tệ.


Đối với Trung Quốc, BCI của Trung Quốc đo lường sự hiểu biết, quan điểm và dự đoán của các nhà kinh doanh, có thang điểm từ 0-200. Chỉ số cao hơn 100 chỉ ra sự lạc quan về bùng nổ kinh tế.Nhưng khi thấp hơn 100, nó chỉ ra kỳ vọng về suy giảm kinh tế.


Chỉ số niềm tin kinh doanh là một trong những chỉ số cảnh báo sớm quan trọng, được tính toán  dựa trên cuộc điều tra hàng tháng và hàng quý về điều kiện kinh doanh cũng như kỳ vọng kinh doanh của các doanh nghiệp. Các cuộc điều tra khảo sát niềm tin kinh doanh có vai trò và tầm quan trọng rất lớn trong việc cung cấp những dấu  hiệu tin cậy về điều kiện hiện tại của nền kinh tế, bởi vì các doanh nghiệp luôn có thông tin về nhu cầu của người tiêu dùng sớm hơn các nhà nghiên cứu thống kê hay chính phủ. Kết quả của cuộc khảo sát niềm tin kinh doanh cho các nhà hoạch định chính sách biết được triển vọng tăng trưởng tươi sáng hay sự đình trệ, đình đốn thậm chí là suy thoái hay khủng hoảng kinh tế của một nền kinh tế thông qua một bộ chỉ số niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp. Trên cở sở kết quả của cuộc khảo sát niềm tin kinh doanh, bộ chỉ số niềm tin kinh doanh được xác định. Thông qua tín hiệu của bộ chỉ số này Chính phủ và khu vực tư nhân Việt Nam có thể nhận diện được tình trạng kinh doanh, điều kiện kinh tế vĩ mô hiện hành và triển vọng trong thời gian tới để giúp cả Chính phủ và công đồng doanh nghiệp trong việc giám sát hoạt động kinh doanh cũng như trong quản lý và điều hành tốt nền kinh tế để có những chính sách và chiến lược phù hợp.


Khi các cuộc khảo sát niềm tin kinh doanh được thực hiện thường xuyên,  ta sẽ có các chuỗi số liệu thống kê thu được đặc biệt thích hợp cho việc theo dõi và dự báo chu kỳ kinh doanh. Đặc điểm chu kỳ của chuỗi trong nhiều trường hợp còn dễ phát hiện hơn bởi vì chúng không chứa đựng xu hướng và chuỗi số liệu này phản ánh những đánh giá và kỳ vọng của các nhà kinh doanh, khiến cho chúng rất thích hợp với vai trò là các chỉ số dẫn báo. Do vậy, chuỗi số liệu về khảo sát niềm tin kinh doanh được sử dụng rộng rãi trong việc phân tích chu kỳ và đặc biệt là trong việc xây dựng các chỉ số tổng hợp vừa dẫn báo vừa báo trùng hợp với chu kỳ kinh doanh. Các chỉ số tổng hợp dựa trên thông tin về khảo sát kinh doanh được đưa vào nhiều bảo cáo về khảo sát niềm tin kinh doanh hoặc được các nhà phân tích sử dụng để tính toán những chỉ số như vậy.


Để cho thuận tiện, nên phân biệt thành hai loại chỉ số, và hai loại chỉ số này có thể được gọi là chỉ số nội bộ hoặc bên ngoài tùy thuộc vào loại thông tin được yêu cầu trong cuộc khảo sát:


- Một chỉ số được coi là nội bộ nếu thông tin khảo sát liên quan đến việc đánh giá các biến liên quan đến công ty của chính những người trả lời;


- Một chỉ số được coi là bên ngoài nếu thông tin khảo sát liên quan đến những vấn đề ở bên ngoài của doanh nghiệp báo cáo, ví dụ như tình hình kinh tế chung của đất nước hoặc trong một ngành cụ thể.


Những câu hỏi mang tính bên ngoài thường được dùng để hỏi trong các khảo sát về công nghiệp ở Ôxtrâylia, Niu Dilân, Pháp và Italia. Tuy nhiên, bảng hỏi trong khảo sát niềm tin/xu hướng kinh doanh nên tập trung vào những câu hỏi mà người trả lời có thể có kiến thức tương đối tốt – nghĩa là những câu hỏi mang tính nội bộ hơn là những câu hỏi mang tính chất bên ngoài đối với công ty của người trả lời. Phần dưới đây sẽ chỉ bàn đến những chỉ số mang tính nội bộ.


Các chỉ số niềm tin thuộc kiểu được bàn đến ở trên có thể tính toán khá đơn giản và sự hữu ích của chúng trong việc giám sát tình hình kinh tế hiện tại và dự báo những thay đổi có thể xảy ra trong ngắn hạn đã được kiểm chứng ở nhiều nước. Tuy nhiên, dữ liệu của khảo sát niềm tin/xu hướng kinh doanh cũng có thể được kết hợp với các số liệu thống kê định lượng để thu được một hệ thống chỉ số chu kỳ có cấu trúc cao hơn như “Hệ thống các Chỉ số Dẫn báo Tổng hợp” của OECD. Những chỉ số này được công bố đối với phần lớn các nước thành viên của OECD trong ấn phẩm định kỳ hàng tháng gọi là Các chỉ số kinh tế chủ yếu (Main Economic Indicators) và trong báo cáo định kỳ nửa năm của OECD về kinh tế của các nước thành viên, gọi là Triển vọng kinh tế (Economic Outlook).


Diễn biến kinh tế tại các nền kinh tế thị trường được đặc trưng bởi sự nối tiếp của các chu kỳ với các giai đoạn mở rộng và thu hẹp xen kẽ trong hoạt động kinh tế. Chu kỳ có thể được định nghĩa bằng cách dựa vào mức tuyệt đối của hoạt động kinh tế. Sự đổi chiều theo hướng đi xuống diễn ra khi hoạt động kinh tế giảm về mặt tuyệt đối, và sự đổi chiều theo hướng đi lên diễn ra khi hoạt động kinh tế bắt đầu tăng lên về mặt tuyệt đối. Điều này có thể được xem là định nghĩa cổ điển về chu kỳ. Ngoài ra có thể định nghĩa chu kỳ xét về tốc độ tăng trưởng. Sự đổi chiều theo hướng đi xuống diễn ra khi tăng trưởng của hoạt động kinh tế giảm xuống dưới mức xu hướng trong dài hạn và sự đổi chiều theo hướng đi lên diễn ra khi tốc độ tăng trưởng cao hơn mức xu hướng dài hạn. Sự mở rộng/thu hẹp trong chu kỳ tăng trưởng bao gồm sự tăng tốc/giảm tốc cũng như sự tăng/giảm về mặt tuyệt đối của hoạt động kinh tế, trong khi đó sự mở rộng/thu hẹp chu kỳ cổ điển chỉ bao gồm sự tăng/giảm tuyệt đối. Giống như phần lớn các hệ thống chỉ số khác, hệ thống chỉ số dẫn báo của OECD đo lường các chu kỳ tăng trưởng.


Các hệ thống chỉ số dẫn báo hoặc “chu kỳ” được xây dựng quanh một chuỗi số liệu tham chiếu, nghĩa là một chuỗi số liệu mục tiêu phản ánh toàn bộ hoạt động kinh tế nói chung và diễn biến chu kỳ mà nó định dự báo. Chuỗi số liệu tham chiếu được sử dụng để thiết lập “phân loại theo thời gian” của các chỉ số thống kê thành các chỉ số dẫn báo, báo trùng hợp hoặc báo sau. Trong ba chỉ số trên, chỉ số được quan tâm nhiều nhất là các chỉ số dẫn báo.


Một biến số đơn như tổng sản lượng công nghiệp hoặc GDP được sử dụng làm chuỗi tham chiếu trong phần lớn các hệ thống chỉ số về chu kỳ. GDP là thước đo tốt nhất của hoạt động kinh tế chung nhưng những thay đổi về sản lượng ngành công nghiệp cũng có tương quan lớn với GDP và được sử dụng làm chuỗi tham chiếu trong nhiều hệ thống chỉ số bởi vì những chỉ số này thường được công bố theo tháng và thường được công bố sớm sau giai đoạn tham chiếu. Tuy nhiên, một bộ các chỉ số báo trùng hợp kết hợp thành một chỉ số tổng hợp cũng là một cách lựa chọn để xác định một chuỗi tham chiếu.


Khi một bộ các chỉ số chu kỳ đã được chọn ra, chúng sẽ được kết hợp với nhau thành một chỉ số tổng hợp duy nhất. Việc này được thực hiện nhằm giảm rủi ro về các tín hiệu sai, và để tạo ra một chỉ số chu kỳ với chất lượng dự báo và theo dõi tốt hơn so với bất kỳ chỉ số thành phần riêng lẻ nào. Lý do tại sao một nhóm các chỉ số được kết hợp lại với nhau thành một chỉ số tổng hợp có thể đáng tin cậy hơn trong một thời kỳ so với bất kỳ thành phần riêng lẻ nào của chúng là có liên quan tới bản chất và nguyên nhân của các chu kỳ kinh doanh. Mỗi chu kỳ đều có những đặc điểm cũng như đặc trưng riêng so với các chu kỳ khác. Nhưng không có nguyên nhân đơn lẻ nào có thể giải thích được sự biến động mang tính chu kỳ trong một giai đoạn thời gian trong toàn bộ hoạt động kinh tế. Do vậy, đặc tính của các chỉ số riêng lẻ sẽ phụ thuộc vào những nguyên nhân đứng đằng sau một chu kỳ cụ thể. Một số chỉ số sẽ hoạt động tốt hơn trong một chu kỳ này và có thể kém hơn trong một chu kỳ khác. Do vậy cần phải có những tín hiệu cho nhiều nguyên nhân tiềm tàng khác nhau của những thay đổi về chu kỳ kinh doanh.


Những lợi thế của chuỗi khảo sát niềm tin/xu hướng kinh doanh sử dụng cho các hệ thống chỉ số về chu kỳ


Chuỗi số liệu thống kê thu được từ các khảo sát kinh doanh đặc biệt thích hợp đối với việc giám sát và dự báo chu kỳ kinh doanh. Cụ thể là, khả năng của chúng trong việc dự đoán điểm chuyển hướng của chu kỳ khiến cho chúng trở nên rất thích hợp với vai trò là các chỉ số dẫn báo và việc xây dựng các chỉ số dẫn báo là mục tiêu chính của một hệ thống chỉ số chu kỳ.
Chuỗi số liệu thống kê thường được lựa chọn để đưa vào một hệ thống chỉ số chu kỳ nếu chúng đáp ứng được những tiêu chuẩn sau đây:


- Tính thích hợp: Cần phải có sự hợp lý về mặt kinh tế để kỳ vọng vào một mối quan hệ dẫn báo.


- Hành vi mang tính chu kỳ: Độ dài và tính nhất quán của sự dẫn báo rõ ràng là rất quan trọng do nó ảnh hưởng tới tính phù hợp của chu kỳ, thiếu các chu kỳ và tính trơn của chuỗi số liệu theo thời gian.


- Những vấn đề cần xem xét trong thực tế. Những vấn đề này bao gồm tần suất công bố (ít nhất là hàng quý hoặc tốt hơn là hàng tháng), không có chỉnh sửa lớn, đảm bảo công bố đúng thời hạn, và đảm bảo sự sẵn có của chuỗi số liệu dài mà không có gián đoạn.


Về tính phù hợp, các khảo sát kinh doanh sẽ được đánh giá cao nếu chúng bao gồm các biến số đo lường được những giai đoạn ban đầu của sản xuất (ví dụ như đơn hàng mới, đơn đặt hàng), phản ứng nhanh với những thay đổi trong hoạt động kinh tế (ví dụ như lượng hàng tồn kho) và đo lường các kỳ vọng (ví dụ như xu hướng sản xuất tương lai).


Những đặc điểm mang tính chu kỳ của chuỗi số liệu khảo sát niềm tin kinh doanh thường dễ phát hiện bởi vì chúng không chứa đựng xu hướng. Đây là một lợi thế lớn nếu hệ thống chỉ số được thiết kế để tìm ra các chu kỳ tăng trưởng được đo bằng những độ chệch từ xu hướng dài hạn. Như đã giải thích ở trên, trong khi các con số thống kê truyền thống được thể hiện bằng giá trị và khối lượng, các khảo sát niềm tin/xu hướng kinh doanh sử dụng các thang đo thứ bậc đối với phần lớn các biến số (thường là thang đo có ba điểm (tăng/không đổi/giảm) – và điều này khiến cho chúng trở nên rất nhạy cảm với những diễn biến mang tính chu kỳ. Thêm vào đó, các biến số của khảo sát niềm tin/xu hướng kinh doanh liên quan đến những đánh giá và kỳ vọng sẽ ghi nhận sự thay đổi trong chu kỳ sớm hơn so với chuỗi số liệu thống kê định lượng tương ứng. Bởi vì những đánh giá và kỳ vọng thường chuẩn bị cho các kế hoạch và chỉ sau khi các kế hoạch này được thực hiện chúng mới được ghi nhận bởi các cuộc điều tra khảo sát thống kê truyền thống.


Chuỗi số liệu của khảo sát niềm tin/xu hướng kinh doanh cũng khá trơn so với số liệu thống kê định lượng. Điều này phần nào được giải thích bởi một thực tế là chuỗi số liệu của khảo sát niềm tin/xu hướng kinh doanh ít nhạy cảm hơn với những sự kiện mang tính gián đoạn như những thay đổi trong các ngày nghỉ lễ hoặc kế hoạch ngừng hoạt động của nhà máy và những điều kiện thời tiết bất thường ảnh hưởng tới số liệu thống kê định lượng, đặc biệt là các số liệu theo tháng.


Một lợi thế khác là dữ liệu của khảo sát niềm tin/xu hướng kinh doanh đều được thu thập từ một nguồn dữ liệu duy nhất (cơ quan tiến hành khảo sát niềm tin/xu hướng kinh doanh) và đều được công bố cùng một thời điểm. Điều này có nghĩa là một chỉ số tổng hợp bao gồm một vài chuỗi số liệu khảo sát niềm tin/xu hướng kinh doanh sẽ luôn được tính toán với số lượng các chỉ số thành phần sẵn có lớn và do vậy sẽ ít bị điều chỉnh về sau. (Phần lớn các chỉ số dẫn báo được công bố sớm ngay khi một tỷ lệ nhất định các chỉ số thành phần được đưa ra và sau đó được sửa đổi khi các chỉ số thành phần thiếu được đưa ra).


Cuối cùng, các khảo sát niềm tin/xu hướng kinh doanh thu thập thông tin từ các biến khó hoặc không thể đo lường được bằng các phương pháp truyền thống như mức độ sử dụng công suất, những nút thắt trong sản xuất và tình hình kinh tế chung. Những biến số này rất phù hợp để dự báo các điểm chuyển hướng của chu kỳ.

-----------------------------------------------------

Nguồn: Báo cáo tổng hợp Kết quả điều tra khảo sát Dự án điều tra, khảo sát niềm tin kinh doanh tại Việt Nam (Báo cáo chính). Chủ nhiệm dự án TS. Lương Văn Khôi, Trưởng ban Kinh tế thế giới.

Trích nguồn:
Tác giả: TS. Lương Văn Khôi và Nhóm nghiên cứu Ban KTTG
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202